Có thuốc giúp loại bỏ kinh nguyệt của phụ nữ

01:21 |
Các nhà khoa học hứa hẹn rằng, chẳng bao lâu nữa họ sẽ loại bỏ hiện tượng “bẩn người” và làm dịu hội chứng khó chịu mà hầu như mọi phụ nữ trên thế giới đang phải trải qua mỗi tháng. Liệu kinh nguyệt có cần thiết? 








Hiện nay, ít nhất ở phương Tây và các quốc gia công nghiệp phát triển, phụ nữ nắm quyền kiểm soát việc sinh nở, hiếm khi “vỡ kế hoạch” và ít nuôi con bằng sữa mẹ. Kết quả là họ liên tục phải gánh chịu những chu kỳ “bẩn người” mỗi tháng. 



Thực tế đó - như khẳng định của một số nhà khoa học là không cần thiết, gây tốn kém, lãng phí về kinh tế và thậm chí không hợp với tự nhiên. Họ cũng cho rằng, hậu quả của tình trạng phải liên tiếp trải qua những kỳ “bẩn người” còn có hại đối với sức khỏe người phụ nữ: có thể làm gia tăng nguy cơ ung thư tử cung, ung thư vú, thiếu máu, hội chứng tiền kinh nguyệt và trầm cảm… 



“Kinh nguyệt mang đến đủ mọi phiền toái, làm tổn hại sức khỏe, khiến phụ nữ phải tiêu tốn không ít tiền để dự trữ các sản phẩm vệ sinh và paracetamol chỉ nhằm mục đích chống đỡ với một tuần dơ bẩn trong mỗi tháng” - người bình luận của tạp chí Lancet nhấn mạnh. 



Tính toán của các chuyên gia thuộc Tập đoàn Texas Instrument (Mỹ) cho thấy, năng suất làm việc của lao động nữ trong thời gian kinh nguyệt suy giảm tới 25%. Trong thời đại kinh tế thị trường, nếu như hạn chế được chu kỳ “đèn đỏ” ở phụ nữ sẽ không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cao mà còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho chị em phụ nữ, giúp họ có một cuộc sống hạnh phúc hơn và ít phiền toái hơn. 



Từ quan điểm đó, các nhà khoa học thời gian qua đã hăng hái tìm kiếm và nghiên cứu các biệt dược nhằm loại bỏ vĩnh viễn hiện tượng kinh nguyệt ở phụ nữ hoặc chí ít cũng có thể hạn chế tối đa số lượng chu kỳ. Hầu hết phụ nữ đến tháng đều có cảm giác khó chịu. 



Mọi phiền toái sẽ được loại bỏ? 



Trong cuộc chạy đua tìm cách kìm hãm “tai ương”, các nhà khoa học đã nghiên cứu bào chế và cho ra đời không ít biệt dược mới. Ngày nay, nhờ những viên ngừa thai thông thường, phụ nữ đã có thể một phần điều khiển chu kỳ kinh nguyệt của mình. Đó là biệt dược tác động lên nồng độ hormon nữ tính trong cơ thể, dẫn đến tình trạng liên tưởng đến có bầu.



Chỉ cần cố tình “quên” tuần lễ nghỉ trong thời gian dùng thuốc thì hiện tượng kinh nguyệt lập tức không xuất hiện. Một số loại thuốc ngừa thai dài ngày có tác dụng trong vòng 3 tháng. Đối tượng sử dụng loại thuốc này không chỉ để tránh thai mà còn giúp làm giảm thiểu số lần “bẩn người” xuống còn 4 lần/năm. 



Gần đây nhất, theo tuần báo Đức Der Spiegel đưa tin, Giáo sư Sinh học Robert Banner thuộc Trung tâm Nghiên cứu động vật có vú bậc cao bang Oregon (Mỹ) và Tiến sĩ Y học Kristor Chwalisz cộng tác với Hãng dược phẩm Đức Jena-pham đã thành công trong nỗ lực kìm hãm chu kỳ kinh ở đàn khỉ cái thí nghiệm. 



Nhóm nghiên cứu đã cho khỉ cái uống hợp chất phong tỏa hormon nữ progesteron - bên cạnh estrogen - đóng vai trò chủ yếu trong chu kỳ sinh nở. Một trong những hợp chất đó, khác với viên ngừa thai, dẫn đến hiện tượng rụng trứng và chỉ loại trừ tình trạng chảy máu; loại thứ hai kìm hãm trứng phát triển và chu kỳ kinh nguyệt. 



Cả hai gộp lại sẽ có tác dụng ngừa thai và ngăn chặn màng nhầy bên trong tử cung phát triển. Chu kỳ sinh nở của khỉ gần giống con người, vậy nên các kết quả thí nghiệm cũng sẽ có tác dụng trên cơ thể phụ nữ.Hai nhà khoa học hy vọng rằng, bằng việc loại bỏ hiện tượng “bẩn người”, phương pháp của họ sẽ góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của một nửa thế giới.



Vẫn còn cảnh giác 



Thế nhưng, liệu phái đẹp có chấp nhận các phát minh trên? Đối với nhiều người, kinh nguyệt là biểu tượng của nữ tính và đồng thời nó là chứng cớ khẳng định rằng, sự sinh nở vẫn nằm dưới sự cai quản của phái đẹp. Nhiều nhà khoa học khác cũng cho rằng, hiện tượng kinh nguyệt là cần thiết. 



Theo GS. Lawrence M.Nelson (Viện Nghiên cứu sức khỏe quốc gia Mỹ), chu kỳ kinh nguyệt chứng tỏ trạng thái sức khỏe tốt của đối tượng. Như nhà khoa học này khẳng định trong bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành New Scientist của Anh, việc sử dụng viên ngừa thai và loại bỏ hiện tượng kinh nguyệt có thể gây khó khăn cho quá trình phát hiện các triệu chứng rối loạn chức năng buồng trứng, như vậy có thể dẫn đến vô sinh.

Cần tránh uống thuốc bằng nước cam

20:47 |

Nước cam rất tốt cho sức khỏe, tuy nhiên nếu những người uống chung thuốc với nước cam có thể gây nhiều tác dụng ngược như giảm hấp thu thuốc, từ đó làm tác dụng của thuốc kém hiệu quả.



Chúng ta thường có thói quen đi thăm bệnh nhân là mua cam để bồi bổ cho người bệnh. Những họ không biết rằng người bệnh thường phải uống thuốc, mà uống thuốc cùng với uống nước cam có thể sẽ làm giảm nồng độ thuốc đi 23-28%. Con số này thừa sức làm thay đổi phổ tác dụng của thuốc.





Can thiệp vào khâu phân huỷ



Nước cam không phải là một lựa chọn tốt để uống cùng thuốc kháng sinh. Trong nước cam chứa axit nên có thể làm hỏng cấu trúc hoá học của các thuốc. Và một khi mất cấu trúc hoá học đặc thù thì thuốc kháng sinh sẽ không còn sức mạnh diệt khuẩn. Bệnh nhân sẽ có nguy cơ bị nhiễm khuẩn kéo dài.



Trong dòng thuốc kháng sinh, có hai loại có phản ứng bất lợi với nước cam là: Kháng sinh dòng beta lactam được dùng khá phổ biến trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiêu hoá, tiết niệu, da, cơ, xương, sinh dục… Loại này có thể bị phân hủy khi uống chung với nước cam. Và kháng sinh ciprofloxaxin (kháng sinh điển hình của dòng quinolon) thường dùng điều trị nhiễm trùng tiêu hoá và tiết niệu sinh dục.



Giảm hấp thu thuốc



Nước cam cũng có thể can thiệp vào khâu hấp thu thuốc làm giảm nồng độ thuốc trong máu, giảm hấp thu từ ruột. Lý do là vì nước cam chứa một chất tương tự như naringin, chất này làm bất hoạt hai men vận chuyển thuốc là OATP1A2 và CYP3A4. Không có hai men này hoạt hoá, thuốc khó lòng mà được hấp thu đầy đủ.



Thuốc hạ huyết áp chẹn beta



Khi dùng chung hoặc dùng gần nhau, nước cam làm thay đổi nồng độ thuốc trong máu của các loại thuốc hạ huyết áp dòng chẹn beta như atenolol, celiprolol, talinolol; khiến thuốc không đạt được nồng độ hiệu dụng. Người ta đã đo đạc và thấy rằng khi có mặt nước cam, nồng độ thuốc hạ xuống 1/5. Mức độ kiểm soát huyết áp vì thế mà ít thành công.



Thuốc chống dị ứng



Bằng những thử nghiệm và quan sát lâm sàng, các nhà khoa học Canada đã phát hiện tác động tiêu cực của nước cam với thuốc chống dị ứng như fexofenadin – loại thuốc giúp giảm các triệu chứng ngứa, giãn mạch, nổi ban, viêm mũi dị ứng.



Kiểm tra định lượng nồng độ thuốc trong máu trên một nhóm người uống thuốc chống dị ứng có sử dụng nước cam và một nhóm không, người ta phát hiện: Ở nhóm uống thuốc bằng nước cam (1,2l/ngày), nồng độ thuốc bị giảm tử 23-28%. Ngoài ra, thuốc trị ung thư như etoposid và thuốc chống thải ghép cyclosporine (tất cả các bệnh nhân ghép tạng nếu không được dùng thuốc sẽ không thể tồn tại quá một tuần vì phản ứng thải ghép) cũng bị giảm tác dụng bởi nước cam.



Nước cam cần tránh khi đang uống thuốc



“Chống” thuốc trị loét dạ dày



Đôi khi nước cam lại đối kháng lại với tác dụng của thuốc. Nhóm thuốc chống viêm loét dạ dày (cimetidin, omeprazol, lanzoprazol…) là thuốc bị phản lại theo cách thức này.



Thuốc trị loét dạ dày là những thuốc có khả năng ức chế tiết acid giúp làm giảm nồng độ axit trong dạ dày giảm xuống; nâng độ pH lên, nhờ vậy triệt tiêu các triệu chứng bệnh. Trong khi đó, nước cam lại nhiều vitamin C, nhiều axit citric, sẽ góp phần làm tăng nồng độ axit trong dạ dày. Nên vô tình nước cam đã làm triệt tiêu tác dụng của thuốc trị viêm loét dạ dày.



Uống đúng, vẫn bổ



Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ nhận hoàn toàn lợi ích của nước cam, bởi đây vẫn là loại đồ uống giàu dinh dưỡng. Tốt nhất bạn chỉ uống thuốc bằng nước tinh khiết để không làm ảnh hưởng đến phổ tác dụng thuốc điều trị. Và chỉ uống nước cam sau khi uống thuốc ít nhất 4h để đảm bảo không làm ảnh hưởng đến tác dụng và tính chất lý hóa của thuốc.



BS. Cao Hồng Phúc

Học viện Quân y

8 sai làm thường mắc khi cha mẹ cho trẻ uống thuốc

20:02 |
Nhiều bậc cha mẹ thường vô tình mắc phải những sai lầm khi cho con dùng thuốc. Những sai lầm này có thể khiến bệnh kéo dài thêm cũng như gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng, nhất là ở trẻ nhỏ. 

Kích thước cơ thể nhỏ bé hơn cùng với hệ thống chuyển hóa chưa hoàn thiện càng khiến cho trẻ dễ gặp nguy hiểm trước những sai sót về thuốc. Hãy cùng bảo vệ bé an toàn hơn bằng cách tránh những sai lầm phổ biến dưới đây. 



1. Dùng thuốc chồng chéo

Nhiều thuốc không kê đơn chứa những hoạt chất như nhau mặc dù các triệu chứng mà chúng điều trị là khác nhau. Ví dụ, nhiều công thức thuốc trị các triệu chứng cảm lạnh có chứa acetaminophen, cũng là hoạt chất làm giảm đau và giảm sốt có trong các loại thuốc hạ sốt. Nếu bạn vừa điều trị tình trạng ngạt mũi của bé bằng thuốc trị cảm lạnh, vừa cho bé dùng thuốc hạ sốt, thì rất có thể bé sẽ nhận được gấp đôi lượng acetaminophen theo khuyến nghị.

Cách tốt hơn: Với trẻ trên 4 tuổi, hãy chỉ điều trị triệu chứng chính. Bạn có thể kiểm tra hướng dẫn sử dụng thuốc để biết chắc rằng đó là thứ tốt nhất cho triệu chứng của bé (hãy xem phần “mục đích” và “sử dụng” của hoạt chất). Đừng dùng hai thuốc cùng một lúc trừ khi có hướng dẫn của bác sĩ.

2. Quên mất chế phẩm bổ sung

Hơn 1/3 số trẻ em ở Mỹ có uống vitamin hoặc chế phẩm bổ sung hằng ngày, tuy nhiên chưa đến 40% số cha mẹ của những trẻ này có nói về việc đó với bác sĩ. Các bác sĩ cần biết liệu có bất kỳ thứ gì trong cơ thể của trẻ có thể tương tác với thuốc hoặc làm giảm hiệu quả của thuốc hay không.

Cách tốt hơn: Hãy mang theo danh sách các loại và liều lượng của từng thuốc, vitamin và chế phẩm bổ sung mà bé đang uống, cũng như danh sách những thứ mà bé bị dị ứng. (Việc lập sẵn danh sách này sẽ rất hữu ích trong trường hợp bé phải đi khám cấp cứu.) Hãy đảm bảo đưa cho bác sĩ danh sách này mỗi lần cho bé đi khám.

3. Phớt lờ y lệnh của bác sĩ

Các bậc cha mẹ thường rất nóng lòng muốn cho con thôi dùng kháng sinh khi bệnh của bé có vẻ khá hơn và việc cho bé uống thuốc rất vất vả. Nhưng vi khuẩn có thể sống lâu hơn và trở nên kháng với thuốc nếu bạn không theo hết liệu trình điều trị. Nếu bệnh tái phát, bé sẽ phải bắt đầu nguyên một liệu trình kháng sinh khác có thể gây ra những tác dụng phụ nặng hơn.

Cách tốt hơn: Hãy hỏi bác sĩ xem có thể pha thêm hương vị hoặc trộn thuốc với đồ ăn hay không.

4. Dùng thuốc cho những mục đích không có trong hướng dẫn sử dụng

Nhiều bậc phụ huynh cho con dùng Benadryl với mong muốn trẻ sẽ ngủ yên khi đi máy bay, nhưng 10% số trẻ lại trở nên kích động hơn – chứ không phải bình tĩnh hơn – sau khi dùng thuốc. Khi các nhà nghiên cứu ở Trung tâm Y học Đại học Georgetown định chứng minh rằng Benadryl gây buồn ngủ, thì họ lại phát hiện ra rằng thuốc thực sự khiến trẻ tăng động hơn.

Cách tốt hơn: Hãy mang theo nhiều đồ chơi, đồ ăn vặt, và trên tất cả là sự kiên nhẫn của bạn trên suốt chặng đường dài.

5. Đong thuốc sai

Theo một nghiên cứu trên tờ International Journal of Clinical Practice, thìa ăn trong bếp có thể đựng được lượng chất lỏng gấp hai đến 3 lần cốc, xi-lanh hoặc thìa đong thuốc chuẩn. Nhưng ngay cả những dụng cụ y tế này cũng có thể sai nếu bạn không cẩn thận. Một nghiên cứu khác từ Trường Y Đại học New York thấy rằng 70% số bậc phụ huynh đổ thuốc ra cốc đong nhiều hơn lượng khuyến nghị.

Cách tốt hơn: Sử dụng ống nhỏ giọt, xi-lanh hoặc thìa đong thay cho cốc đong. Luôn đọc dấu hiệu thật cẩn thận. Thìa cà phê (tsp.) và thìa canh (Tbsp.) có thể rất giống nhau. Nếu bị nhầm giữa hai loại, trẻ có thể nhận được thuốc gấp ba liều khuyến nghị.

6. Kiêm luôn bác sĩ của con

Đứa nhỏ vốn khỏe mạnh ở nhà bạn bắt đầu kêu bị đau họng, giống y như đứa lớn đang uống thuốc để điều trị viêm họng liên cầu. Có vẻ như bạn hoàn toàn có thể tự chẩn đoán được bệnh cho đứa nhỏ và điều trị luôn cho nó bằng chai thuốc bạn đang dùng cho đứa lớn trong khi chưa mua được cho bé chai thuốc riêng. Nhưng nếu chẩn đoán của bạn bị sai, thì bé có thể bị bệnh nặng hơn.

Đôi khi bé có đầy đủ các triệu chứng của viêm họng liên cầu nhưng thực ra lại bị tăng bạch cầu đơn nhân. Trong trường hợp này, kháng sinh có thể gây phát ban rất đáng sợ. Tự ý dùng kháng sinh khi không có đơn bác sĩ cũng làm tăng nguy cơ kháng kháng sinh.

Cách tốt hơn: Hãy để việc chẩn đoán bệnh cho những người có chuyên môn, và đừng bao giờ cho trẻ dùng chung thuốc kê đơn cho dù trẻ bị cùng một bệnh. Liều lượng thuốc sẽ khác nhau tùy theo tuổi, cân nặng và tiền sử bệnh của từng trẻ.

7. Căn cứ vào tuổi, chứ không phải vào cân nặng của trẻ để xác định liều thuốc

Trẻ em chuyển hóa thuốc khác nhau tùy thuộc vào cân nặng – chứ không phải vào độ tuổi. Sự khác biệt này đặc biệt quan trọng nếu trẻ thừa cân hoặc thiếu cân so với tuổi.

Một nghiên cứu từ Khoa dược trường Đại học Minnesot, Mỹ thấy rằng trẻ béo phì chuyển hóa caffeine và dextromethorphan, thành phần chính trong nhiều loại thuốc giảm ho – nhanh hơn những bạn cùng lứa có cân nặng trung bình, nghĩa là trẻ có thể cần liều thuốc nhiều hơn so với trong hướng dẫn sử dụng.

Cách tốt hơn: Luôn hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng thuốc không kê đơn nếu cân nặng của trẻ cao hơn hoặc thấp hơn cân nặng theo độ tuổi ghi trên hướng dẫn sử dụng. Bác sĩ và dược sĩ cần tính đến cân nặng của trẻ khi viết đơn thuốc và bán thuốc.

8. Không đọc kỹ hướng dẫn sử dụng thuốc cho trẻ

Nếu bé phải uống một loại thuốc nào đó khá thường xuyên – như thuốc kháng histamine để điều trị dị ứng, thì bạn rất dễ hình thành thói quen và cho bé uống lượng thuốc hệt như nhau mà không nhận ra rằng liều thuốc có thể cần thay đổi do bé đã lớn hơn hoặc thuốc đã hết hạn.

Một lý do quan trọng khác để đọc hướng dẫn sử dụng thật cẩn thận: Bác sĩ và dược sĩ có thể nhấm lẫn khi kê đơn và bán thuốc cho bạn. Sai sót kiểu này có thể xảy ra do một số thuốc có tên gọi và hình thức na ná như nhau.

Cách tốt hơn: Hãy chắc chắn là bạn có thể đọc được đơn của bác sĩ. Nếu không thể, hãy đề nghị bác sĩ đánh vần đúng tên cùng với thông tin về cách sử dụng thuốc và ghi lại. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng thuốc khi bạn còn đang ở nhà thuốc để có thể dễ dàng hỏi lại nếu có thắc mắc. Luôn hỏi bác sĩ và dược sĩ về những thay đổi khi cấp lại đơn thuốc. 


Theo Dân trí/ Parents

Thông tin cập nhật về Calcitonin dạng tiên của Bộ Y tế

19:58 |
Bộ Y tế (Cục Quản lý Dược) vừa có công văn gửi Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các bệnh viện, viện có giường bệnh trực thuộc Bộ Y tế và các công ty đăng ký, sản xuất thuốc lưu hành tại Việt Nam về việc cập nhật thông tin dược lý đối với thuốc chứa calcitonin dạng tiêm.



Đồng thời tăng cường việc theo dõi tác dụng không mong muốn của thuốc trong quá trình sử dụng và lưu hành.



Theo đó, về chỉ định dùng thuốc, cần loại bỏ các chỉ định đã được phê duyệt trước đây và thay thế bằng các chi định sau: phòng ngừa mất xương cấp tính do bất động đột ngột như trường hợp bệnh nhân bị gãy xương do loãng xương; điều trị bệnh Paget, giới hạn sử dụng cho bệnh nhân không đáp ứng với các phương pháp điều trị khác hoặc không phù hợp với các phương pháp điều trị khác như bệnh nhân có suy giảm chức năng thận nghiêm trọng; tăng calci máu ác tính.



Về liều dùng và cách dùng, cần bổ sung những thông tin sau: Dựa trên bằng chứng việc sử dụng lâu dài calcitonin làm tăng nguy cơ ung thư, thời gian điều trị ở tất cả các chỉ định cần được giới hạn ngắn nhất có thể và sử dụng mức liều tối thiểu có hiệu quả.



Để phòng ngừa mất xương cấp tính do bất động đột ngột như trường hợp bệnh nhân bị gãy xương do loãng xương, liều khuyến cáo 100 IU 1 lần/ngày hoặc 50 IU 2 lần/ngày tiêm dưới da hoặc tiêm bắp. Giảm liều xuống 50 IU 1 lần/ngày khi bệnh nhân bắt đầu có thể cử động. Đợt điều trị được khuyến cáo kéo dài 2 tuần, tối đa là 4 tuần do tăng nguy cơ ung thư khi sử dụng lâu dài calcitonin.



Đối với bệnh Paget, liều khuyến cáo 100 IU 1 lần/ngày tiêm dưới da hoặc tiêm bắp, tuy nhiên, mức liều tối thiểu 50 IU 3 lần/tuần vẫn có hiệu quả sinh hóa và lâm sàng. Mức liều nên được hiệu chỉnh phù hợp với tình trạng bệnh nhân. Việc điều trị nên kết thúc ngay sau khi bệnh nhân có đáp ứng và các triệu chứng thoái lui. Thời gian điều trị thông thường tối đa là 3 tháng.



Trong trường hợp ngoại lệ như bệnh nhân có khả năng bị gãy xương bệnh lý, thời gian điều trị có thể kéo dài tối đa 6 tháng. Việc tái điều trị định kỳ có thể tiến hành ở các bệnh nhân nói trên sau khi cân nhắc giữa lợi ích và việc tăng nguy cơ ung thư khi sử dụng lâu dài thuốc này.



Hiệu quả của calcitonin có thể được theo dõi bằng cách đánh giá các dấu hiệu tái cấu trúc xương, chẳng hạn như hoạt độ alkalin phosphatase huyết thanh hoặc nồng độ hydroxyprolin hoặc deoxypyridinolin niệu...



Cục Quản lý Dược yêu cầu, đối với thuốc chứa calcitonin dạng tiêm đã được cấp phép lưu hành trên thị trường, trong vòng 3 tháng kể từ ngày ký công văn này, yêu cầu công ty đăng ký, nhà sản xuất tự cập nhật các thông tin dược lý liên quan đến thuốc này vào nhãn, tờ hướng dẫn sử dụng thuốc và hồ sơ liên quan và chịu trách nhiệm về các nội dung đã cập nhật.



Trường hợp phát hiện các cơ sở sản xuất, kinh doanh không thực hiện cập nhật thông tin này, Cục Quản lý Dược sẽ đình chỉ lưu hành hoặc ngừng cấp số đăng ký thuốc theo quy định. Đối với thuốc chứa calcitonin dạng tiêm đang chờ xét duyệt, Cục Quản lý Dược chỉ xem xét cấp số đăng ký lưu hành sau khi công ty đã nộp tài liệu sửa đổi/bổ sung các thông tin dược lý theo hướng dẫn kèm theo công văn này.

FDA phê duyệt thuốc mới Glyxambi để điều trị tiểu đường loại 2

23:24 |
Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã phê duyệt Glyxambi (empagliflozin / Linagliptin) điều trị tiểu đường tuyp 2 dạng viên nén, được sản xuất bởi công ty Dược phẩm Boehringer Ingelheim và Eli Lilly.

Glyxambi là thuốc sử dụng bổ trợ cùng với chế độ ăn uống và tập thể dục để cải thiện kiểm soát lượng đường huyết ở người lớn bị bệnh tiểu đường loại 2 (T2D) phương pháp điều trị dùng cả 2 empagliflozin và Linagliptin thích hợp. Glyxambi được khuyến cáo không dùng cho những bệnh nhân bị bệnh tiểu đường loại 1 hoặc tiểu đường nhiễm axit ceton.




Glyxambi chưa được nghiên cứu ở những bệnh nhân có tiền sử viêm tụy và không rõ rằng liệu sử dụng Glyxambi có làm tăng nguy cơ phát triển viêm tụy ở những bệnh nhân này hay không. Glyxambi là phương pháp điều trị bệnh tiểu đường đầu tiên và duy nhất tại Mỹ kết hợp cơ chế kép là hoạt động ức chế đồng vận chuyển natri- glucose (SGLT2) và một chất ức chế dipeptidyl peptidase-4 (DPP-4) trong một viên thuốc dùng mỗi ngày vào buổi sáng. Glyxambi kết hợp 10 mg hoặc 25 mg empagliflozin với 5 mg Linagliptin.

Các chất ức chế SGLT2 loại bỏ glucose qua nước tiểu bằng cách chặn đường huyết tái hấp thu ở thận. Các chất ức chế DPP-4 hoạt động bằng cách tăng tiết tố kích thích tuyến tụy sản xuất insulin nhiều hơn và kích thích gan sản xuất ít glucose.

Paul Fonteyne, chủ tịch và là giám đốc điều hành BIPI cho biết: "Cộng đồng y khoa ngày nay nhận ra sự cần thiết điều trị bệnh tiểu đường loại 2 từ nhiều phương pháp để giúp bệnh nhân cải thiện kiểm soát đường huyết. Glyxambi đem lại sự ức chế kép của DPP-4 và SGLT2 (hai phương án đã được chứng minh trong việc điều trị bệnh tiểu đường loại 2), hiện tại đã cung cấp cho các bác sĩ và bệnh nhân Mỹ thêm một lựa chọn để kiểm soát đường huyết. Đối với bệnh nhân không kiểm soát được metformin, kết quả thử nghiệm giai đoạn III cho thấy Glyxambi khiến giảm đáng kể lượng đường trong máu so với việc chỉ sử dụng empagliflozin hoặc Linagliptin. "

Glyxambi không nên dùng cho bệnh nhân suy thận nặng, bệnh thận giai đoạn cuối hoặc đang lọc máu; tiền sử phản ứng quá mẫn cảm với Linagliptin, như sốc phản vệ, phù mạch, bệnh da tróc vảy, nổi mề đay, hoặc hyperreactivity phế quản; hoặc từng bị phản ứng mẫn cảm nghiêm trọng với empagliflozin.

Đã có báo cáo cảnh báo đối với bệnh nhân bị viêm tụy cấp, trong đó có trường hợp bệnh nhân bị viêm tụy gây tử vong khi dùng Linagliptin, trong đó có thành phần Glyxambi. Vì vậy bệnh nhân cần cẩn thận khi có các dấu hiệu và triệu chứng bị viêm tụy. Nếu nghi ngờ bị viêm tụy, cần ngừng ngay dùng Glyxambi và bắt đầu có phương án điều trị phù hợp. Thêm nữa, dù chưa có nghiên cứu rõ ràng, nhưng bệnh nhân có tiền sử viêm tụy cũng có nguy cơ tăng sự phát triển viêm tụy trong khi sử dụng Glyxambi.

Mike Mason, phó chủ tịch Lilly Diabetes tại Mỹ cho biết: "Một nửa số người bị tiểu đường loại 2 không kiểm soát được lượng đường trong máu theo khuyến cáo, vì vậy việc lựa chọn phương án điều trị mới là quan trọng hơn bao giờ hết. Việc phê duyệt Glyxambi đã được cho phép kê đơn để cải thiện tình trạng này.”




Thông tin về các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III do FDA thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả và tính an toàn của Glyxambi (10/5 mg và 25/5 mg) so với các thành phần riêng: empagliflozin (10 mg hoặc 25 mg) hoặc Linagliptin (5 mg) ở người lớn bị tiểu đường loại 2 được phép sử dụng metformin liều cao (1889 mg mỗi ngày).

Nghiên cứu ngẫu nhiên 686 người lớn bị tiểu đường loại 2 và hemoglobin A1C (thước đo đường huyết trung bình trong 2-3 tháng vừa qua) ở mức giữa 7,0% và 10,5%, kiểm tra sự thay đổi so với A1C ban đầu ở tuần thứ 24. Trong nghiên cứu này, Glyxambi cho thấy sự giảm đáng kể về mặt thống kê trong A1C so với empagliflozin và chỉ dùng Linagliptin ở tuần thứ 24.

Bắt đầu từ con số trung bình khoảng 8.0%, bệnh nhân trong thử nghiệm này đạt được mức A1C trung bình là 6.9% và 6.7% với mức Glyxambi tương ứng 10/5mg và 25/5 mg, so với mức A1C trung bình 7.3% và 7.4% khi dùng empagliflozin tương ứng10 mg và 25 mg, và 7.3% khi dùng Linagliptin 5 mg. Tỷ lệ bệnh nhân đạt được mức A1C ít hơn 7% khi dùng Glyxambi 10/5 mg hoặc 25/5 mg tương ứng là 58% và 62%, so với 28%, 33% và 36% khi dùng tương ứng empagliflozin 10 mg, 25 mg và Linagliptin 5 mg. Mặc dù không được chấp thuận dùng để giảm cân, nhưng Glyxambi cũng khiến bệnh nhân giảm cân đáng kể sau 24 tuần so với chỉ dùng Linagliptin.

• Glyxambi 10/5 mg: giảm trọng lượng cơ thể trung bình 3.1% từ một cơ sở trung bình £ 191

• Glyxambi 25/5 mg: giảm trọng lượng cơ thể trung bình 3.4% từ một cơ sở trung bình £ 187

• Linagliptin 5 mg: giảm trọng lượng cơ thể trung bình 0.7 phần trăm từ một cơ sở trung bình £ 187

Qua 52 tuần, tỷ lệ hạ đường huyết tổng thể khi dùng Glyxambi là 2.2% và 3.6% tương ứng với mức dùng Glyxambi 10/5mg và 25/5 mg, và không có trường hợp hạ đường huyết nặng được báo cáo trong thử nghiệm. Dùng kết hợp một liều thấp hơn của insulin có thể được yêu cầu để giảm nguy cơ hạ đường huyết khi dùng phối hợp với Glyxambi.

Qua 52 tuần, hồ sơ an toàn của GLYXAMBI đã được chứng minh và các phản ứng phụ thường gặp nhất là:

- Nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI): 12.5%và 11.4% khi dùng tương ứng Glyxambi 10/5 mg và 25/5 mg; Sau 52 tuần, không có bệnh nhân nào bị chỉ định dừng Glyxambi do UTIs

- Viêm mũi họng: 5.9% và 6.6% khi dùng tương ứng Glyxambi 10/5 mg và 25/5 mg; Nhiễm trùng đường hô hấp: 7.0% khi dùng Glyxambi 10/5mg và 25/5 mg



Theo nguồn FDA