Cần tránh uống thuốc bằng nước cam

20:47 |

Nước cam rất tốt cho sức khỏe, tuy nhiên nếu những người uống chung thuốc với nước cam có thể gây nhiều tác dụng ngược như giảm hấp thu thuốc, từ đó làm tác dụng của thuốc kém hiệu quả.



Chúng ta thường có thói quen đi thăm bệnh nhân là mua cam để bồi bổ cho người bệnh. Những họ không biết rằng người bệnh thường phải uống thuốc, mà uống thuốc cùng với uống nước cam có thể sẽ làm giảm nồng độ thuốc đi 23-28%. Con số này thừa sức làm thay đổi phổ tác dụng của thuốc.





Can thiệp vào khâu phân huỷ



Nước cam không phải là một lựa chọn tốt để uống cùng thuốc kháng sinh. Trong nước cam chứa axit nên có thể làm hỏng cấu trúc hoá học của các thuốc. Và một khi mất cấu trúc hoá học đặc thù thì thuốc kháng sinh sẽ không còn sức mạnh diệt khuẩn. Bệnh nhân sẽ có nguy cơ bị nhiễm khuẩn kéo dài.



Trong dòng thuốc kháng sinh, có hai loại có phản ứng bất lợi với nước cam là: Kháng sinh dòng beta lactam được dùng khá phổ biến trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiêu hoá, tiết niệu, da, cơ, xương, sinh dục… Loại này có thể bị phân hủy khi uống chung với nước cam. Và kháng sinh ciprofloxaxin (kháng sinh điển hình của dòng quinolon) thường dùng điều trị nhiễm trùng tiêu hoá và tiết niệu sinh dục.



Giảm hấp thu thuốc



Nước cam cũng có thể can thiệp vào khâu hấp thu thuốc làm giảm nồng độ thuốc trong máu, giảm hấp thu từ ruột. Lý do là vì nước cam chứa một chất tương tự như naringin, chất này làm bất hoạt hai men vận chuyển thuốc là OATP1A2 và CYP3A4. Không có hai men này hoạt hoá, thuốc khó lòng mà được hấp thu đầy đủ.



Thuốc hạ huyết áp chẹn beta



Khi dùng chung hoặc dùng gần nhau, nước cam làm thay đổi nồng độ thuốc trong máu của các loại thuốc hạ huyết áp dòng chẹn beta như atenolol, celiprolol, talinolol; khiến thuốc không đạt được nồng độ hiệu dụng. Người ta đã đo đạc và thấy rằng khi có mặt nước cam, nồng độ thuốc hạ xuống 1/5. Mức độ kiểm soát huyết áp vì thế mà ít thành công.



Thuốc chống dị ứng



Bằng những thử nghiệm và quan sát lâm sàng, các nhà khoa học Canada đã phát hiện tác động tiêu cực của nước cam với thuốc chống dị ứng như fexofenadin – loại thuốc giúp giảm các triệu chứng ngứa, giãn mạch, nổi ban, viêm mũi dị ứng.



Kiểm tra định lượng nồng độ thuốc trong máu trên một nhóm người uống thuốc chống dị ứng có sử dụng nước cam và một nhóm không, người ta phát hiện: Ở nhóm uống thuốc bằng nước cam (1,2l/ngày), nồng độ thuốc bị giảm tử 23-28%. Ngoài ra, thuốc trị ung thư như etoposid và thuốc chống thải ghép cyclosporine (tất cả các bệnh nhân ghép tạng nếu không được dùng thuốc sẽ không thể tồn tại quá một tuần vì phản ứng thải ghép) cũng bị giảm tác dụng bởi nước cam.



Nước cam cần tránh khi đang uống thuốc



“Chống” thuốc trị loét dạ dày



Đôi khi nước cam lại đối kháng lại với tác dụng của thuốc. Nhóm thuốc chống viêm loét dạ dày (cimetidin, omeprazol, lanzoprazol…) là thuốc bị phản lại theo cách thức này.



Thuốc trị loét dạ dày là những thuốc có khả năng ức chế tiết acid giúp làm giảm nồng độ axit trong dạ dày giảm xuống; nâng độ pH lên, nhờ vậy triệt tiêu các triệu chứng bệnh. Trong khi đó, nước cam lại nhiều vitamin C, nhiều axit citric, sẽ góp phần làm tăng nồng độ axit trong dạ dày. Nên vô tình nước cam đã làm triệt tiêu tác dụng của thuốc trị viêm loét dạ dày.



Uống đúng, vẫn bổ



Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ nhận hoàn toàn lợi ích của nước cam, bởi đây vẫn là loại đồ uống giàu dinh dưỡng. Tốt nhất bạn chỉ uống thuốc bằng nước tinh khiết để không làm ảnh hưởng đến phổ tác dụng thuốc điều trị. Và chỉ uống nước cam sau khi uống thuốc ít nhất 4h để đảm bảo không làm ảnh hưởng đến tác dụng và tính chất lý hóa của thuốc.



BS. Cao Hồng Phúc

Học viện Quân y

8 sai làm thường mắc khi cha mẹ cho trẻ uống thuốc

20:02 |
Nhiều bậc cha mẹ thường vô tình mắc phải những sai lầm khi cho con dùng thuốc. Những sai lầm này có thể khiến bệnh kéo dài thêm cũng như gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng, nhất là ở trẻ nhỏ. 

Kích thước cơ thể nhỏ bé hơn cùng với hệ thống chuyển hóa chưa hoàn thiện càng khiến cho trẻ dễ gặp nguy hiểm trước những sai sót về thuốc. Hãy cùng bảo vệ bé an toàn hơn bằng cách tránh những sai lầm phổ biến dưới đây. 



1. Dùng thuốc chồng chéo

Nhiều thuốc không kê đơn chứa những hoạt chất như nhau mặc dù các triệu chứng mà chúng điều trị là khác nhau. Ví dụ, nhiều công thức thuốc trị các triệu chứng cảm lạnh có chứa acetaminophen, cũng là hoạt chất làm giảm đau và giảm sốt có trong các loại thuốc hạ sốt. Nếu bạn vừa điều trị tình trạng ngạt mũi của bé bằng thuốc trị cảm lạnh, vừa cho bé dùng thuốc hạ sốt, thì rất có thể bé sẽ nhận được gấp đôi lượng acetaminophen theo khuyến nghị.

Cách tốt hơn: Với trẻ trên 4 tuổi, hãy chỉ điều trị triệu chứng chính. Bạn có thể kiểm tra hướng dẫn sử dụng thuốc để biết chắc rằng đó là thứ tốt nhất cho triệu chứng của bé (hãy xem phần “mục đích” và “sử dụng” của hoạt chất). Đừng dùng hai thuốc cùng một lúc trừ khi có hướng dẫn của bác sĩ.

2. Quên mất chế phẩm bổ sung

Hơn 1/3 số trẻ em ở Mỹ có uống vitamin hoặc chế phẩm bổ sung hằng ngày, tuy nhiên chưa đến 40% số cha mẹ của những trẻ này có nói về việc đó với bác sĩ. Các bác sĩ cần biết liệu có bất kỳ thứ gì trong cơ thể của trẻ có thể tương tác với thuốc hoặc làm giảm hiệu quả của thuốc hay không.

Cách tốt hơn: Hãy mang theo danh sách các loại và liều lượng của từng thuốc, vitamin và chế phẩm bổ sung mà bé đang uống, cũng như danh sách những thứ mà bé bị dị ứng. (Việc lập sẵn danh sách này sẽ rất hữu ích trong trường hợp bé phải đi khám cấp cứu.) Hãy đảm bảo đưa cho bác sĩ danh sách này mỗi lần cho bé đi khám.

3. Phớt lờ y lệnh của bác sĩ

Các bậc cha mẹ thường rất nóng lòng muốn cho con thôi dùng kháng sinh khi bệnh của bé có vẻ khá hơn và việc cho bé uống thuốc rất vất vả. Nhưng vi khuẩn có thể sống lâu hơn và trở nên kháng với thuốc nếu bạn không theo hết liệu trình điều trị. Nếu bệnh tái phát, bé sẽ phải bắt đầu nguyên một liệu trình kháng sinh khác có thể gây ra những tác dụng phụ nặng hơn.

Cách tốt hơn: Hãy hỏi bác sĩ xem có thể pha thêm hương vị hoặc trộn thuốc với đồ ăn hay không.

4. Dùng thuốc cho những mục đích không có trong hướng dẫn sử dụng

Nhiều bậc phụ huynh cho con dùng Benadryl với mong muốn trẻ sẽ ngủ yên khi đi máy bay, nhưng 10% số trẻ lại trở nên kích động hơn – chứ không phải bình tĩnh hơn – sau khi dùng thuốc. Khi các nhà nghiên cứu ở Trung tâm Y học Đại học Georgetown định chứng minh rằng Benadryl gây buồn ngủ, thì họ lại phát hiện ra rằng thuốc thực sự khiến trẻ tăng động hơn.

Cách tốt hơn: Hãy mang theo nhiều đồ chơi, đồ ăn vặt, và trên tất cả là sự kiên nhẫn của bạn trên suốt chặng đường dài.

5. Đong thuốc sai

Theo một nghiên cứu trên tờ International Journal of Clinical Practice, thìa ăn trong bếp có thể đựng được lượng chất lỏng gấp hai đến 3 lần cốc, xi-lanh hoặc thìa đong thuốc chuẩn. Nhưng ngay cả những dụng cụ y tế này cũng có thể sai nếu bạn không cẩn thận. Một nghiên cứu khác từ Trường Y Đại học New York thấy rằng 70% số bậc phụ huynh đổ thuốc ra cốc đong nhiều hơn lượng khuyến nghị.

Cách tốt hơn: Sử dụng ống nhỏ giọt, xi-lanh hoặc thìa đong thay cho cốc đong. Luôn đọc dấu hiệu thật cẩn thận. Thìa cà phê (tsp.) và thìa canh (Tbsp.) có thể rất giống nhau. Nếu bị nhầm giữa hai loại, trẻ có thể nhận được thuốc gấp ba liều khuyến nghị.

6. Kiêm luôn bác sĩ của con

Đứa nhỏ vốn khỏe mạnh ở nhà bạn bắt đầu kêu bị đau họng, giống y như đứa lớn đang uống thuốc để điều trị viêm họng liên cầu. Có vẻ như bạn hoàn toàn có thể tự chẩn đoán được bệnh cho đứa nhỏ và điều trị luôn cho nó bằng chai thuốc bạn đang dùng cho đứa lớn trong khi chưa mua được cho bé chai thuốc riêng. Nhưng nếu chẩn đoán của bạn bị sai, thì bé có thể bị bệnh nặng hơn.

Đôi khi bé có đầy đủ các triệu chứng của viêm họng liên cầu nhưng thực ra lại bị tăng bạch cầu đơn nhân. Trong trường hợp này, kháng sinh có thể gây phát ban rất đáng sợ. Tự ý dùng kháng sinh khi không có đơn bác sĩ cũng làm tăng nguy cơ kháng kháng sinh.

Cách tốt hơn: Hãy để việc chẩn đoán bệnh cho những người có chuyên môn, và đừng bao giờ cho trẻ dùng chung thuốc kê đơn cho dù trẻ bị cùng một bệnh. Liều lượng thuốc sẽ khác nhau tùy theo tuổi, cân nặng và tiền sử bệnh của từng trẻ.

7. Căn cứ vào tuổi, chứ không phải vào cân nặng của trẻ để xác định liều thuốc

Trẻ em chuyển hóa thuốc khác nhau tùy thuộc vào cân nặng – chứ không phải vào độ tuổi. Sự khác biệt này đặc biệt quan trọng nếu trẻ thừa cân hoặc thiếu cân so với tuổi.

Một nghiên cứu từ Khoa dược trường Đại học Minnesot, Mỹ thấy rằng trẻ béo phì chuyển hóa caffeine và dextromethorphan, thành phần chính trong nhiều loại thuốc giảm ho – nhanh hơn những bạn cùng lứa có cân nặng trung bình, nghĩa là trẻ có thể cần liều thuốc nhiều hơn so với trong hướng dẫn sử dụng.

Cách tốt hơn: Luôn hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng thuốc không kê đơn nếu cân nặng của trẻ cao hơn hoặc thấp hơn cân nặng theo độ tuổi ghi trên hướng dẫn sử dụng. Bác sĩ và dược sĩ cần tính đến cân nặng của trẻ khi viết đơn thuốc và bán thuốc.

8. Không đọc kỹ hướng dẫn sử dụng thuốc cho trẻ

Nếu bé phải uống một loại thuốc nào đó khá thường xuyên – như thuốc kháng histamine để điều trị dị ứng, thì bạn rất dễ hình thành thói quen và cho bé uống lượng thuốc hệt như nhau mà không nhận ra rằng liều thuốc có thể cần thay đổi do bé đã lớn hơn hoặc thuốc đã hết hạn.

Một lý do quan trọng khác để đọc hướng dẫn sử dụng thật cẩn thận: Bác sĩ và dược sĩ có thể nhấm lẫn khi kê đơn và bán thuốc cho bạn. Sai sót kiểu này có thể xảy ra do một số thuốc có tên gọi và hình thức na ná như nhau.

Cách tốt hơn: Hãy chắc chắn là bạn có thể đọc được đơn của bác sĩ. Nếu không thể, hãy đề nghị bác sĩ đánh vần đúng tên cùng với thông tin về cách sử dụng thuốc và ghi lại. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng thuốc khi bạn còn đang ở nhà thuốc để có thể dễ dàng hỏi lại nếu có thắc mắc. Luôn hỏi bác sĩ và dược sĩ về những thay đổi khi cấp lại đơn thuốc. 


Theo Dân trí/ Parents