Phương pháp phẫu thuật đem lại hiệu quả điều trị đau nửa đầu

20:10 |
Nghiên cứu trên tạp chí Plastic and Reconstructive Surgery cho thấy rằng: Đau nửa đầu liên quan đến sự khiếm khuyết của lớp ngăn cách xung quanh các sợi thần kinh.

Một nghiên cứu mới cho thấy những thay đổi cấp tế bào trong cấu trúc và chức năng thần kinh có thể khiến gia tăng những cơn đau nửa đầu. Báo cáo nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí Plastic and Reconstructive Surgery® vào tháng 11, đây là tạp chí y khoa chính thức của Hiệp hội các bác sĩ phẫu thuật thẩm mĩ (ASPS).




Theo nghiên cứu của tiến sĩ Bahman Guyuron, một thành viên của hiệp hội ASPS, đến từ Đại học Case Western Reserve, Cleveland: “Mẫu dây thần kinh của các bệnh nhân đau nửa đầu cho thấy sự bất thường của vỏ bao myelin có chức năng ngăn cách quanh các sợi thần kinh ". Những phát hiện này giúp giải thích tại sao phương pháp phẫu thuật thẩm mỹ sẽ giúp giảm đau hiệu quả cho bệnh nhân đau nửa đầu và có thể cung cấp thông tin hữu ích cho việc phát triển các phương pháp mới để điều trị chứng đau nửa đầu. 

Sợi thần kinh bất thường ở bệnh nhân đau nửa đầu

Các nhà nghiên cứu đã thực hiện nghiên cứu chuyên sâu trên các mẫu dây thần kinh sinh ba (một trong những dây thần kinh ở sọ) từ 15 bệnh nhân đã được phẫu thuật điều trị chứng đau nửa đầu. Các nghiên cứu được thực hiện thông qua sự kết hợp của ba phương pháp độc lập tại Trường Y khoa Case Western Reserve, bao gồm dùng kính hiển vi điện tử để đánh giá cấu trúc tế bào thần kinh và phân tích protein để đánh giá sự hiện diện, chức năng của protein.

Kết quả cho thấy những khác biệt quan trọng trong cấu trúc thần kinh giữa bệnh nhân đau nửa đầu và bệnh nhân đã phẫu thuật thẩm mỹ. Tiến sĩ Guyuron nói: "Về cơ bản, ở bệnh nhân bị chứng đau nửa đầu, các lớp bảo vệ xung quanh giúp ngăn cách các dây thần kinh bình thường, được gọi là myelin, đã bị mất hoặc bị khiếm khuyết" Ông so sánh vỏ myelin với lớp phủ nhựa được sử dụng làm vật liệu cách nhiệt xung quanh dây điện và cáp điện.

Tiến sĩ Guyuron nói: "Nếu vỏ bọc đó bị nứt hoặc hỏng do điều kiện trong môi trường, điều đó sẽ ảnh hưởng đến khả năng để thực hiện chức năng bình thường của dây cáp. Tương tự nếu lớp vỏ bao myelin bị khiếm khuyết có thể làm cho các dây thần kinh dễ bị kích ứng bởi các cấu trúc khác quanh chúng, chẳng hạn như cơ bắp và mạch máu, nên xuất hiện những cơn đau nửa đầu."

Tổ chức các yếu tố tế bào trong sợi thần kinh cũng khác nhau giữa các nhóm nghiên cứu. Dây thần kinh của những người khỏe mạnh tổ chức chặt chẽ các yếu tố và phân bố đều qua các dây thần kinh, còn dây thần kinh của bệnh nhân đau nửa đầu cho thấy các yếu tố phân bố không liên tục, có sự phân bố "chắp vá".

Tại sao phương pháp phẫu thuật có thể hiệu quả đối với bệnh đau nửa đầu?

Tiến sĩ Guyuron đã nghiên cứu phát triển các kỹ thuật phẫu thuật đau nửa đầu sau khi nhận thấy rằng một số bệnh nhân đau nửa đầu đã đỡ đau đầu hơn sau khi phẫu thuật thẩm mỹ chỉnh sửa trán. Phẫu thuật này thực hiện liên quan đến loại bỏ một số cơ bắp và các mô xung quanh mạch các dây thần kinh sọ não.

Nghiên cứu mới này cũng đưa ra một số thông tin mới quan trọng về cơ chế mà các cơn đau nửa đầu xảy ra; cho biết thêm những bằng chứng mới rằng các dây thần kinh ngoại vi đóng một vai trò quan trọng trong việc kích hoạt các tầng phức hợp của các cuộc tấn công đau nửa đầu mà cuối cùng liên quan đến hệ thần kinh trung ương. Bằng cách đưa ra các thay đổi bệnh lý của dây thần kinh sọ não tham gia gây đau nửa đầu, nghiên cứu có thể giúp giải thích tại sao phương pháp phẫu thuật đau nửa đầu sẽ đem lại hiệu quả.

Tiến sĩ Guyuron và các đồng tác giả viết: "Những phát hiện này cũng có thể dẫn đến những cơ hội khác để điều trị bệnh nhân bị đau nửa đầu không xâm lấn, hoặc dùng quy trình ít xâm lấn, sửa chữa các khiếm khuyết vỏ bao myelin quanh dây thần kinh, tăng cường bảo vệ bổ sung cho các dây thần kinh."

Phát hiện mới về các bất thường tế bào thần kinh liên quan với chứng đau nửa đầu cũng được thảo luận trên video giới thiệu bởi Tiến sĩ Rod J. Rohrich, Editor-in-Chief, trên website Plastic and Reconstructive Surgery. Bác sĩ Rohrich kết luận: "Đây là phương pháp nghiên cứu cắt lớp, là cách mà bác sĩ phẫu thuật thẩm mĩ vẫn không ngừng cố gắng để cải thiện kết quả cho bệnh nhân".


Hoài Thanh
Medical News Magazine 

Rối loạn tiêu hóa bẩm sinh, căn bệnh quái ác

19:03 |
Đây là căn bệnh quái ác, khi trẻ mắc bệnh này sẽ tử vong khi bú sữa mẹ. Cứ trong 2.000 trường hợp trẻ chào đời thì có 1 ca mắc phải. Bệnh cần được phải hiện sớm để có thể tìm biện pháp ngăn chặn biến chứng. 

TS.BS. Vũ Tề Đăng (Phó khoa Sơ sinh BV. Phụ sản Từ Dũ) cho biết, hàng năm BV. Từ Dũ tiếp nhận khoảng 50 - 60 ca trẻ mắc bệnh rối loạn chuyển hóa bẩm sinh (RLCHBS). 

Những ca bệnh đau lòng



Mới đây, tại BV. Từ Dũ, chị H. sinh một bé trai khỏe mạnh. Khoảng 3 ngày sau khi bú sữa mẹ, bé bắt đầu bỏ bú và lừ đừ, được chuyển đến khu chăm sóc đặc biệt của khoa Sơ sinh nhưng yếu dần và tử vong. Qua xét nghiệm và biểu hiện lâm sàng, các bác sĩ xác định bệnh nhi bị chứng RLCHBS.

Chị H. từng sinh con ở Quy Nhơn nhưng đứa con bị tử vong, với chẩn đoán lúc đó là nhiễm trùng sơ sinh. Mang thai bé thứ hai, chi quyết định vào BV.Từ Dũ nhưng không ngờ con mình bị RLCHBS.

Trường hợp tương tự là một sản phụ ở Quảng Bình lần lượt sinh 4 đứa con nhưng đều tử vong không rõ nguyên nhân. Đầu tiên chị sinh con ở trạm y tế xã và đứa bé tử vong chỉ vài ngày sau đó. Lần hai, chị đến bệnh viện tỉnh, rồi lần ba đến bệnh viện Trung ương Huế, lần bốn ra BV. Phụ sản Trung ương. Mặc dù tại BV. Phụ sản Trung ương, con của chị đã được xác định bệnh RLCHBS và đã được chăm sóc đặc biệt nhưng cũng tử vong chỉ sau 14 ngày. Mang thai lần thứ năm, chị vào BV. Từ Dũ để sinh.

TS.BS. Vũ Tề Đăng cho biết: “Khi nhập viện, sản phụ này được theo dõi thai ngay và bé sinh ra được cách ly và can thiệp bằng chế độ dinh dưỡng đặc biệt, không được bú sữa mẹ”. BV. Từ Dũ cũng lấy mẫu máu gót chân của bé gửi sang nước ngoài xét nghiệm. Kết quả, cơ thể bé bị rối loạn chuyển hóa với một loại đường có trong sữa mẹ (galactose).

Tại sao mắc bệnh?

Bệnh RLCHBS là do bất thường về gen khiến cơ thể không tổng hợp được các enzym có chức năng chuyển hóa. Bệnh có 3 nhóm chính, gồm rối loạn chuyển hóa đường, đạm và chất béo. Từ 3 nhóm này, rối loạn chuyển hóa phát sinh hơn 100 bệnh khác nhau. Bác sĩ Đăng cho biết: “Khi bé còn nằm trong bụng mẹ, các chất dinh dưỡng mà bé tiếp nhận đều đã được cơ thể mẹ chuyển hóa thay. Do đó bé bình an vô sự. Nhưng khi chào đời và bú sữa, trẻ có bệnh sẽ gặp rắc rối vì các chất này không được chuyển hóa mà ứ lại. Ở thể nặng, bệnh khiến trẻ tử vong ngay sau sinh. Thể nhẹ, bé có thể kém phát triển tâm thần vận động”.

Bệnh nặng hay nhẹ phụ thuộc vào chất cơ thể không chuyển hóa được. Nếu trẻ bị rối loạn chuyển hóa với chất đạm thì sau khi bú mẹ sẽ bị ngộ độc thần kinh trung ương, hôn mê; với chất béo, về sau sẽ ảnh hưởng đến quá trình tạo màng tế bào thần kinh…

Bệnh rối loạn tiêu hóa bẩm sinh, hậu quả đau lòng

Bệnh có thể phòng ngừa?

Trẻ lúc trong bào thai và lúc sinh ra hầu như không có biểu hiện gì. Điều này gây khó khăn cho chẩn đoán. Triệu chứng chỉ xuất hiện sau vài cữ bú sữa mẹ hoặc bú bình với những biểu hiện thường thấy là lừ đừ, bỏ bú, nôn ói, bụng phình, nước tiểu và mồ hôi có mùi hôi bất thường. Nghiêm trọng hơn, trẻ sẽ lơ mơ, hôn mê hoặc gồng giật.

Bác sĩ Đăng cho hay, hiện không thể can thiệp vào gen để chữa bệnh nên điều trị bằng cách xác định trẻ bị rối loạn chuyển hóa chất nào thì loại chất ấy từ thực phẩm hoặc dùng các chất thay thế. Cũng có thể dùng các loại thuốc có khả năng sản xuất enzym vốn mang chức năng chuyển hóa. Trẻ dễ mắc bệnh khi cả bố và mẹ là những người mắc chứng rối loạn chuyển hóa tiềm ẩn. Tuy nhiên, xác định bố mẹ có mắc bệnh chứng này không thì không đơn giản.

TS. BS. Vũ Tề Đăng khuyên: “Khi sinh bé đầu mà trẻ tử vong với dấu hiệu do RLCHBS, sản phụ nên đến bệnh viện tuyến trên để sinh và cảnh báo rõ với bác sĩ để cách ly sữa cho đứa trẻ mới sinh ngay”. Ở đây cho thấy, việc khám sức khỏe tiền hôn nhân là cần thiết. Trong đó, việc xét nghiệm di truyền, làm nhiễm sắc thể đồ để nhận biết bố hay mẹ tương lai có chứng rối loạn chuyển hóa là quan trọng, để giúp sinh đứa con khỏe mạnh không mắc chứng bệnh quái ác này.

Hiện khoa Di truyền BV. Từ Dũ đã làm được xét nghiệm này. Theo BS Đăng, đây là vấn đề cần được Chính phủ và toàn xã hội quan tâm, người dân cũng nên biết để có thể đi làm xét nghiệm, các nước tiên tiến trên thế giới đã phổ biến việc này từ lâu. Bởi, tỉ lệ trẻ bị chứng RLCHBS là lớn.

Được biết, liên quan đến căn bệnh này, hiện có Dự án “Nâng cao nhận thức về chẩn đoán và điều trị một số rối loạn chuyển hóa bẩm sinh giai đoạn 2014-2018” do Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em, Bộ Y Tế, Bệnh viện Nhi Trung ương với sự hỗ trợ hợp tác của công ty Mead Johnson Việt Nam thực hiện. Trong năm 2014, Dự án đã tập huấn cho hàng trăm bác sĩ từ các bệnh viện trong khắp cả nước, và cứu sống 32 trẻ mắc bệnh.

Theo TS.BS. Lê Thanh Hải, Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung Ương: “Điều đáng lo ngại nhất của bệnh là việc chẩn đoán trong giai đoạn thai kì và khi chào đời gần như không thể. Trẻ sinh ra không có biểu hiện gì cho đến khi bắt đầu tiếp nhận các chất dinh dưỡng từ bên ngoài. Điều này là nguyên nhân khiến bệnh được phát hiện muộn và hầu hết đều không thể được cứu sống.

Vì vậy, tôi mong muốn dự án được nhân rộng trên phạm vi cả nước nhằm giúp cho các em mắc phải chứng RLCHBS được chẩn đoán và điều trị sớm”. Còn Bà Lưu Thị Hồng, Vụ trưởng Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em, chia sẻ: “Dự án này thể hiện chức năng quản lý nhà nước về các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng sống của trẻ em Việt Nam, ngành Y tế Việt Nam đồng thời mang ý nghĩa xã hội, nhân văn cao cả”.

Khám phá khả năng kỳ diệu của con người

19:14 |
Bạn đã từng biết người có khả năng “dự báo thời tiết” khá chính xác. Có khi chính bạn bị đột ngột đau nửa đầu vào một ngày “ốm nắng” trước mùa đông. Hoặc khi thưởng thức một tách trà thoảng hương hoa nhài, khiến bạn trầm tư mộng tưởng về một miền ký ức xa xăm... 

Có thể bạn đã tự hỏi: Vì sao vậy? Đó là vì con người có những khả năng kỳ diệu. “Hễ trở trời là mẹ tớ đau đầu” Tôi nhớ mãi câu nói của một người bạn thân: 



“Hễ trở trời là mẹ tớ đau đầu”. 

Ở quê tôi, khi thời tiết đang nắng mà mưa, đang nóng mà lạnh... nghĩa là có thay đổi thời tiết thì các cụ gọi là trở trời. Và mỗi lần như thế thì mẹ của bạn tôi lại bị đau đầu dữ dội, mà theo bà tả là “đau như búa bổ”. Nhờ bà dự báo thời tiết mà chúng tôi biết cách chuẩn bị để đối phó hữu hiệu mỗi khi có thay đổi nắng mưa. Tuy nhiên, chúng tôi cũng không hiểu căn nguyên của chuyện này để giải thích động viên bà. 

May mắn là gần đây, nghiên cứu của nhà thần kinh học ở Mayo Clinic, Rochester - Bác sĩ Jerry W.Swanson đã cho biết: “Thời tiết thay đổi có thể làm mất cân bằng các hóa chất trong não, bao gồm serotonin và gây ra chứng đau nửa đầu”. Qua đó, bác sĩ Swanson khuyên chúng ta nên ở trong nhà khi trời quá lạnh hoặc quá nhiều gió để tránh chứng đau nửa đầu.

Tới đây, tôi sẽ mang lời khuyên quý báu này của bác sĩ Swanson về nói cho mẹ của bạn tôi biết, để bà phòng tránh và hạn chế cơn đau nửa đầu mà bà đã phải chịu đựng cả nửa cuộc đời đến nay.

“Cửa sổ tâm hồn” tiết lộ tình yêu và báo hiệu mùa xuân 

Khi bạn có một chuyện rất vui, hẳn mắt bạn mở to và thần thái sáng long lanh. Bác sĩ Hansra đã dày công nghiên cứu về đôi mắt của người đang yêu, nhận thấy rằng: “Khi bị hấp dẫn bởi ai đó, con ngươi mắt có xu hướng giãn ra”. Đây là bí quyết để bạn nhận định nửa kia đã thực sự bị cuốn hút bởi bạn hay chưa. 

Về phần mình, nếu bạn đã thật sự mê mẩn tâm hồn vì “đối phương” thì bạn hãy thầm cảm ơn hệ thần kinh giao cảm - cơ quan điều khiển sự co giãn đồng tử, vì đã “nói hộ lòng bạn” với nửa kia. 

Các nhà khoa học còn nhận thấy, đôi mắt không chỉ tiết lộ tình yêu nồng nàn nơi bạn, nó còn sáng rực khi bạn bị lôi cuốn bởi một cảnh tượng làm bạn mãn nhãn, chẳng hạn cảnh biển trời bao la hay núi non hùng vĩ... hoặc một điện thoại cực đỉnh - quà tặng, sáng long lanh trên bàn của bạn... 



Trái tim “dự đoán tương lai” 

Các nhà nghiên cứu của các trường: Đại học Northwesten (ở Evanston, Illinois), Đại học California và Đại học Padova (Italy) đã cho những người tham gia nghiên cứu xem một loạt hình ảnh theo trật tự không đoán được và theo dõi phản ứng của họ. Một số tấm ảnh bình thường, một số ảnh khác cho cảm giác hào hứng. 

Trong quá trình thí nghiệm, các nhà khoa học phát hiện ra nhịp tim của họ tăng khoảng 10 giây trước khi tấm hình gây hứng thú được trình chiếu. Điều đó chứng tỏ rằng tim của họ có thể cảm nhận được khi có thứ gì đó hồi hộp hoặc đáng lo ngại sắp xảy ra. 

Nghiên cứu này cho thấy, trái tim có thể đoán trước nhiều sự kiện một cách chắc chắn mà không cần gợi ý nào. Từ nghiên cứu này, các nhà khoa học đưa ra lời khuyên cho chúng ta: hãy lắng nghe điều trái tim mình mách bảo. 

Anh hùng Ngô Thị Tuyển vác thùng đạn nặng 98kg 

Chắc bạn vẫn còn nhớ gương sáng của Anh hùng Ngô Thị Tuyển. Chị là dân quân, tiểu khu Nam Ngạn, thuộc thị xã Thanh Hóa đã vác đạn phục vụ chiến đấu trong trận đầu tiên ngày 4 tháng 4 năm 1965, đã vận chuyển trên 30 tấn đạn. Khi đó, Ngô Thị Tuyển với dáng người nhỏ bé: cao 1,4m, nặng 42kg mà đã vác cùng một lúc hai hòm đạn dính vào nhau nặng 98kg, góp phần hạ máy bay giặc Mỹ trong ngày đầu tiên. 

Lý giải cho hành động anh hùng này, các nhà khoa học cho biết: khi não bộ của bạn nhận được báo động nguy hiểm từ hệ thống thần kinh cảm giác, hormon adrenaline tiết ra, làm tăng nhịp tim, nhịp thở, giãn đồng tử và quan trọng nhất là bộ máy tiêu hóa ngừng hoạt động để dồn cho các cơ bắp một sức mạnh phi thường. 

Thông thường, bộ máy tiêu hóa của bạn không thể cho những bộ phận khác của cơ thể vay năng lượng của nó vĩnh viễn. Chỉ trong lúc bức thiết, khả năng ngừng đốt cháy năng lượng của nó được huy động tối đa để giúp bạn vượt qua nguy hiểm. Điều này lý giải tại sao một người rơi vào trạng thái nguy hiểm, họ có thể thực hiện được những hành động mà họ chưa bao giờ và sẽ không bao giờ làm được lần thứ hai như thế. 


ThS. Phạm Phú Vinh

Nguy hại khôn lường khi dùng nhiều nước ngọt có gas

19:52 |
Rất nhiều người thích uống nước ngọt vì nó ngon lành và giải tỏa nhanh cơn khát, giúp ăn gì cũng trôi và còn nạp năng lượng thần tốc cho những lúc mệt nhoài. 

Thực chất những loại đường đơn trong thành phần của nước ngọt có ga chỉ cung cấp năng lượng cho người sử dụng, nhưng không cung cấp kèm vitamin, nên gọi là “năng lượng rỗng”, nó không có lợi cho người sử dụng nếu dùng nhiều và thường xuyên. 



Theo thói quen, nhiều người khi ăn nhiều đạm thì sẽ uống uống nước ngọt để dễ tiêu hóa. Thực chất trong nước ngọt có ga không có tác dụng giúp hoạt động tiêu hóa tốt hơn, hiện tượng ợ hơi là do CO2 tách khỏi nước và thoát ra ngoài chứ không phải là dấu hiệu của sự “dễ tiêu hóa”. 

Nạp quá nhiều nước ngọt có gas là nguyên nhân gây một số bệnh sau: 

Gây bệnh ung thư 

Nguyên nhân làm cho các loại nước uống có ga, có chứa carbonat làm tăng nguy cơ bị ung thư thực quản là do nước có ga thường làm căng dạ dày, gây ra hiện tượng trào ngược và trực tiếp dẫn đến ung thư thực quản. Ngoài ra, những người uống nhiều thức uống có cafein thì gan sẽ bị tổn thương. 

Hỏng men răng 

Đường và acid trong đồ uống có ga + soda sẽ làm hỏng men răng một cách từ từ và sau đó là răng sẽ bị sâu không thể cứu chữa được. Tim mạch Trong đồ uống có ga và soda có chứa rất nhiều đường Fructoza, là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh tim mạch. 

Gây lão hóa da nhanh 

Những loại axit có trong nước ngọt gây hại cho sức khỏe và sắc đẹp của bạn. Những loại axit này khiến làn da của chúng ta mất đi vẻ sáng mịn, ợ nóng và tăng nguy cơ đối mặt với bệnh loãng xương. Uống nước ngọt khi đói sẽ phá vỡ sự cân bằng giữa axit và kiềm của hệ tiêu hóa. 

Gây béo phì 

Một trong những sự thật gây sốc của nước ngọt chính là gây nên tình trạng béo phì. Một nghiên cứu của các nhà khoa học Đan Mạch đã phát hiện ra, uống nước ngọt hàng ngày sẽ làm gia tăng các loại chất béo khác nhau trong cơ thể. Thậm chí, nước ngọt còn làm tăng cholesterol. 

Không chỉ nước ngọt thường mà cả nước ngọt ăn kiêng cũng có thể làm tăng “chu vi” vòng eo và tăng cân. Chất tạo vị ngọt trong nước ngọt ăn kiêng làm tăng nồng độ đường trong máu, từ đó dẫn đến tăng cân. 

Tăng nguy cơ sỏi thận 

Trong nước ngọt có chứa chất phốt phát, một loại chất đã được xác định là góp phần gây nên sỏi thận. Tạp chí Dịch tễ học của Mỹ cũng đã công bố một nghiên cứu, trong đó cho biết, uống hai lon hoặc nhiều hơn nước ngọt mỗi ngày sẽ tăng gấp đôi nguy cơ mắc bệnh thận. 

Làm hỏng hệ tiêu hóa 

Uống nước ngọt mỗi ngày cũng sẽ làm hỏng hệ tiêu hóa của bạn. Trong nước ngọt có nhiều chất phụ gia, hóa chất và chất bảo quản làm tổn thương bề mặt của ruột và dạ dày. Tiêu thụ hàng ngày loại đồ uống có tính axit này cũng có thể tạo ra môi trường axit kéo dài và dẫn đến tổn thương niêm mạc dạ dày. 

Gây bệnh tiểu đường 

Nước ngọt khiến chúng ta đối mặt với nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường. Cuộc nghiên cứu của các nhà khoa học Đan Mạch cũng tìm ra những dấu hiệu cho thấy, nước ngọt khiến chúng ta đối mặt với nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường. 

Nếu uống soda mỗi ngày liên tục trong 6 tháng sẽ dẫn đến sự tích tụ mỡ thừa xung quanh gan và cơ xương. Điều này có thể dẫn đến nguy cơ kháng insulin trong cơ thể và dẫn tới nguy cơ mắc bệnh tiểu đường cao hơn bình thường. 

Không dùng nước có ga trong những trường hợp sau 

- Không nên dùng nước uống có ga cùng và sau khi uống rượu vì nước ngọt có ga làm tăng nhanh tác dụng hấp thu của cơ thể đối với chất rượu cồn, gây tổn hại đến gan. 

- Không uống khi hệ tiêu hóa không tốt vì nước ngọt có ga sẽ kích thích niêm mạc dạ dày và ruột, có thể làm 2 cơ quan này bị tê liệt. Hậu quả là tiêu hóa không tốt, bị đau bụng, tiêu chảy... 

- Không uống khi ăn cơm, ăn tiệc vì có quá nhiều nước trong dạ dày sẽ làm loãng dịch vị, giảm công năng sát khuẩn của dịch vị. Khí CO2 cũng ảnh hưởng đến sự sản sinh ra chất Pepsinogen, khiến cho công năng tiêu hóa bị suy giảm. 

- Không ngậm lâu trong miệng vì điều này dễ làm cho cổ họng bị sung huyết. Nếu tình trạng này kéo dài, huyết quản ở cổ họng sẽ bị co lại, lượng máu chảy ở đó giảm. Hậu quả là công năng của cổ họng bị rối loạn, sức miễn dịch cục bộ thấp, dễ sinh viêm họng, khản tiếng, đau họng...

Có thuốc giúp loại bỏ kinh nguyệt của phụ nữ

01:21 |
Các nhà khoa học hứa hẹn rằng, chẳng bao lâu nữa họ sẽ loại bỏ hiện tượng “bẩn người” và làm dịu hội chứng khó chịu mà hầu như mọi phụ nữ trên thế giới đang phải trải qua mỗi tháng. Liệu kinh nguyệt có cần thiết? 








Hiện nay, ít nhất ở phương Tây và các quốc gia công nghiệp phát triển, phụ nữ nắm quyền kiểm soát việc sinh nở, hiếm khi “vỡ kế hoạch” và ít nuôi con bằng sữa mẹ. Kết quả là họ liên tục phải gánh chịu những chu kỳ “bẩn người” mỗi tháng. 



Thực tế đó - như khẳng định của một số nhà khoa học là không cần thiết, gây tốn kém, lãng phí về kinh tế và thậm chí không hợp với tự nhiên. Họ cũng cho rằng, hậu quả của tình trạng phải liên tiếp trải qua những kỳ “bẩn người” còn có hại đối với sức khỏe người phụ nữ: có thể làm gia tăng nguy cơ ung thư tử cung, ung thư vú, thiếu máu, hội chứng tiền kinh nguyệt và trầm cảm… 



“Kinh nguyệt mang đến đủ mọi phiền toái, làm tổn hại sức khỏe, khiến phụ nữ phải tiêu tốn không ít tiền để dự trữ các sản phẩm vệ sinh và paracetamol chỉ nhằm mục đích chống đỡ với một tuần dơ bẩn trong mỗi tháng” - người bình luận của tạp chí Lancet nhấn mạnh. 



Tính toán của các chuyên gia thuộc Tập đoàn Texas Instrument (Mỹ) cho thấy, năng suất làm việc của lao động nữ trong thời gian kinh nguyệt suy giảm tới 25%. Trong thời đại kinh tế thị trường, nếu như hạn chế được chu kỳ “đèn đỏ” ở phụ nữ sẽ không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cao mà còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho chị em phụ nữ, giúp họ có một cuộc sống hạnh phúc hơn và ít phiền toái hơn. 



Từ quan điểm đó, các nhà khoa học thời gian qua đã hăng hái tìm kiếm và nghiên cứu các biệt dược nhằm loại bỏ vĩnh viễn hiện tượng kinh nguyệt ở phụ nữ hoặc chí ít cũng có thể hạn chế tối đa số lượng chu kỳ. Hầu hết phụ nữ đến tháng đều có cảm giác khó chịu. 



Mọi phiền toái sẽ được loại bỏ? 



Trong cuộc chạy đua tìm cách kìm hãm “tai ương”, các nhà khoa học đã nghiên cứu bào chế và cho ra đời không ít biệt dược mới. Ngày nay, nhờ những viên ngừa thai thông thường, phụ nữ đã có thể một phần điều khiển chu kỳ kinh nguyệt của mình. Đó là biệt dược tác động lên nồng độ hormon nữ tính trong cơ thể, dẫn đến tình trạng liên tưởng đến có bầu.



Chỉ cần cố tình “quên” tuần lễ nghỉ trong thời gian dùng thuốc thì hiện tượng kinh nguyệt lập tức không xuất hiện. Một số loại thuốc ngừa thai dài ngày có tác dụng trong vòng 3 tháng. Đối tượng sử dụng loại thuốc này không chỉ để tránh thai mà còn giúp làm giảm thiểu số lần “bẩn người” xuống còn 4 lần/năm. 



Gần đây nhất, theo tuần báo Đức Der Spiegel đưa tin, Giáo sư Sinh học Robert Banner thuộc Trung tâm Nghiên cứu động vật có vú bậc cao bang Oregon (Mỹ) và Tiến sĩ Y học Kristor Chwalisz cộng tác với Hãng dược phẩm Đức Jena-pham đã thành công trong nỗ lực kìm hãm chu kỳ kinh ở đàn khỉ cái thí nghiệm. 



Nhóm nghiên cứu đã cho khỉ cái uống hợp chất phong tỏa hormon nữ progesteron - bên cạnh estrogen - đóng vai trò chủ yếu trong chu kỳ sinh nở. Một trong những hợp chất đó, khác với viên ngừa thai, dẫn đến hiện tượng rụng trứng và chỉ loại trừ tình trạng chảy máu; loại thứ hai kìm hãm trứng phát triển và chu kỳ kinh nguyệt. 



Cả hai gộp lại sẽ có tác dụng ngừa thai và ngăn chặn màng nhầy bên trong tử cung phát triển. Chu kỳ sinh nở của khỉ gần giống con người, vậy nên các kết quả thí nghiệm cũng sẽ có tác dụng trên cơ thể phụ nữ.Hai nhà khoa học hy vọng rằng, bằng việc loại bỏ hiện tượng “bẩn người”, phương pháp của họ sẽ góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của một nửa thế giới.



Vẫn còn cảnh giác 



Thế nhưng, liệu phái đẹp có chấp nhận các phát minh trên? Đối với nhiều người, kinh nguyệt là biểu tượng của nữ tính và đồng thời nó là chứng cớ khẳng định rằng, sự sinh nở vẫn nằm dưới sự cai quản của phái đẹp. Nhiều nhà khoa học khác cũng cho rằng, hiện tượng kinh nguyệt là cần thiết. 



Theo GS. Lawrence M.Nelson (Viện Nghiên cứu sức khỏe quốc gia Mỹ), chu kỳ kinh nguyệt chứng tỏ trạng thái sức khỏe tốt của đối tượng. Như nhà khoa học này khẳng định trong bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành New Scientist của Anh, việc sử dụng viên ngừa thai và loại bỏ hiện tượng kinh nguyệt có thể gây khó khăn cho quá trình phát hiện các triệu chứng rối loạn chức năng buồng trứng, như vậy có thể dẫn đến vô sinh.

Cần tránh uống thuốc bằng nước cam

20:47 |

Nước cam rất tốt cho sức khỏe, tuy nhiên nếu những người uống chung thuốc với nước cam có thể gây nhiều tác dụng ngược như giảm hấp thu thuốc, từ đó làm tác dụng của thuốc kém hiệu quả.



Chúng ta thường có thói quen đi thăm bệnh nhân là mua cam để bồi bổ cho người bệnh. Những họ không biết rằng người bệnh thường phải uống thuốc, mà uống thuốc cùng với uống nước cam có thể sẽ làm giảm nồng độ thuốc đi 23-28%. Con số này thừa sức làm thay đổi phổ tác dụng của thuốc.





Can thiệp vào khâu phân huỷ



Nước cam không phải là một lựa chọn tốt để uống cùng thuốc kháng sinh. Trong nước cam chứa axit nên có thể làm hỏng cấu trúc hoá học của các thuốc. Và một khi mất cấu trúc hoá học đặc thù thì thuốc kháng sinh sẽ không còn sức mạnh diệt khuẩn. Bệnh nhân sẽ có nguy cơ bị nhiễm khuẩn kéo dài.



Trong dòng thuốc kháng sinh, có hai loại có phản ứng bất lợi với nước cam là: Kháng sinh dòng beta lactam được dùng khá phổ biến trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiêu hoá, tiết niệu, da, cơ, xương, sinh dục… Loại này có thể bị phân hủy khi uống chung với nước cam. Và kháng sinh ciprofloxaxin (kháng sinh điển hình của dòng quinolon) thường dùng điều trị nhiễm trùng tiêu hoá và tiết niệu sinh dục.



Giảm hấp thu thuốc



Nước cam cũng có thể can thiệp vào khâu hấp thu thuốc làm giảm nồng độ thuốc trong máu, giảm hấp thu từ ruột. Lý do là vì nước cam chứa một chất tương tự như naringin, chất này làm bất hoạt hai men vận chuyển thuốc là OATP1A2 và CYP3A4. Không có hai men này hoạt hoá, thuốc khó lòng mà được hấp thu đầy đủ.



Thuốc hạ huyết áp chẹn beta



Khi dùng chung hoặc dùng gần nhau, nước cam làm thay đổi nồng độ thuốc trong máu của các loại thuốc hạ huyết áp dòng chẹn beta như atenolol, celiprolol, talinolol; khiến thuốc không đạt được nồng độ hiệu dụng. Người ta đã đo đạc và thấy rằng khi có mặt nước cam, nồng độ thuốc hạ xuống 1/5. Mức độ kiểm soát huyết áp vì thế mà ít thành công.



Thuốc chống dị ứng



Bằng những thử nghiệm và quan sát lâm sàng, các nhà khoa học Canada đã phát hiện tác động tiêu cực của nước cam với thuốc chống dị ứng như fexofenadin – loại thuốc giúp giảm các triệu chứng ngứa, giãn mạch, nổi ban, viêm mũi dị ứng.



Kiểm tra định lượng nồng độ thuốc trong máu trên một nhóm người uống thuốc chống dị ứng có sử dụng nước cam và một nhóm không, người ta phát hiện: Ở nhóm uống thuốc bằng nước cam (1,2l/ngày), nồng độ thuốc bị giảm tử 23-28%. Ngoài ra, thuốc trị ung thư như etoposid và thuốc chống thải ghép cyclosporine (tất cả các bệnh nhân ghép tạng nếu không được dùng thuốc sẽ không thể tồn tại quá một tuần vì phản ứng thải ghép) cũng bị giảm tác dụng bởi nước cam.



Nước cam cần tránh khi đang uống thuốc



“Chống” thuốc trị loét dạ dày



Đôi khi nước cam lại đối kháng lại với tác dụng của thuốc. Nhóm thuốc chống viêm loét dạ dày (cimetidin, omeprazol, lanzoprazol…) là thuốc bị phản lại theo cách thức này.



Thuốc trị loét dạ dày là những thuốc có khả năng ức chế tiết acid giúp làm giảm nồng độ axit trong dạ dày giảm xuống; nâng độ pH lên, nhờ vậy triệt tiêu các triệu chứng bệnh. Trong khi đó, nước cam lại nhiều vitamin C, nhiều axit citric, sẽ góp phần làm tăng nồng độ axit trong dạ dày. Nên vô tình nước cam đã làm triệt tiêu tác dụng của thuốc trị viêm loét dạ dày.



Uống đúng, vẫn bổ



Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ nhận hoàn toàn lợi ích của nước cam, bởi đây vẫn là loại đồ uống giàu dinh dưỡng. Tốt nhất bạn chỉ uống thuốc bằng nước tinh khiết để không làm ảnh hưởng đến phổ tác dụng thuốc điều trị. Và chỉ uống nước cam sau khi uống thuốc ít nhất 4h để đảm bảo không làm ảnh hưởng đến tác dụng và tính chất lý hóa của thuốc.



BS. Cao Hồng Phúc

Học viện Quân y

Vi khuẩn đường ruột và những tác động với cơ thể

08:30 |
Trong hàng chục ngàn tỷ loại vi sinh vật sống thì có ít nhất 1.000 loài vi khuẩn có hơn 3 triệu gen. Hơn thế nữa, 2/3 trong số các vi khuẩn trong ruột mỗi người là khác nhau. Nhưng bạn có biết cách hệ vi sinh vật đường ruột ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của bạn hay không?  
 

Hầu hết chúng ta đều biết rằng các vi khuẩn trong đường ruột đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa. Khi dạ dày và ruột non không thể tiêu hóa loại thức ăn nào đó, vi khuẩn đường ruột sẽ nhảy vào để giúp đỡ, đảm bảo hấp thụ được các chất dinh dưỡng cần thiết. Ngoài ra, vi khuẩn đường ruột được huy động để hỗ trợ sản xuất một số loại vitamin (chẳng hạn như vitamin B và K) và đóng vai trò quan trọng trong chức năng miễn dịch.





Nhưng hiện nay, các nhà nghiên cứu đang làm việc để tìm hiểu thêm về cách thức vi khuẩn đường ruột tác động đến sức khỏe và tạo nên nguy cơ mắc bệnh của chúng ta, đặc biệt là các loại vi khuẩn riêng của mỗi cá nhân. Các nghiên cứu chủ yếu về cách hệ vi sinh vật đường ruột ảnh hưởng đến nguy cơ béo phì và một số điều kiện trao đổi chất khác của cơ thể.



Sự phát triển của hệ vi sinh vật đường ruột



Từ lâu chúng ta vẫn cho rằng sự phát triển của hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển tới khi trẻ được sinh ra, đường tiêu hóa của thai nhi được coi là một môi trường vô trùng. Theo Gut Microbiota Worldwatch, đường tiêu hóa của trẻ sơ sinh sẽ nhanh chóng thích ứng với các vi sinh vật và môi trường xung quanh từ người mẹ. Ví dụ vi sinh vật đường ruột của trẻ có thể bị ảnh hưởng khi mẹ cho con bú.



Họ giải thích rằng trong ruột của trẻ bú mẹ chủ yếu bao gồm vi khuẩn Bifidobacteria (một loại vi khuẩn "thân thiện" có lợi cho đường ruột), trong khi thức ăn dành cho các em bé lại có ít vi khuẩn này. Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại không cho rằng bào thai là một môi trường vô trùng, họ cho rằng sự phát triển của hệ vi sinh vật đường ruột bắt đầu trước khi sinh.



Một nghiên cứu năm 2008 được công bố trên tạp Research in Microbiology đã xác định những loại vi khuẩn, bao gồm cả Enterococcus and Staphylococcus có trong phân su của chú chuột con, cho thấy các vi khuẩn đã được chuyển giao cho thai nhi từ ruột của người mẹ trong quá trình mang thai. Trong nghiên cứu này, một nhóm các con chuột mang thai đã được tiêm vi khuẩn Enterococcus fecium, được tách ra từ sữa mẹ. Họ lấy phân su của những chú chuột con mới được sinh ra từ những con chuột mẹ đó để thử nghiệm.



Các nhà nghiên cứu đã thấy E. fecium trong phân của chúng, và không thấy E.fecium trong phân su những con chuột con có chuột mẹ không được tiêm vi khuẩn đó. Seth Bordenstein, nhà sinh vật học tại Đại học Vanderbilt ở Nashville, TN đã phát biểu trên tạp chí The Scientist: "Các bằng chứng đó cho thấy không phải những thai nhi trong bụng mẹ là hoàn toàn vô khuẩn, và chúng bị ảnh hưởng từ khi còn ở trong bụng mẹ.”



Càng đa dạng các vi khuẩn trong đường ruột càng tốt



Mặc dù các cuộc tranh luận về việc liệu trẻ sơ sinh khi sinh ra đã tồn tại vi khuẩn đường ruột hay chưa vẫn được tiếp tục, nhưng dường như các nhà khoa học đều nhất trí rằng: từ khi sinh ra cho đến khi già, vi khuẩn đường ruột của chúng ta không ngừng phát triển. Như đã đề cập trước đó, hai phần ba trong số các vi khuẩn ruột là có riêng ở mỗi người, và những thứ tạo nên sự độc đáo này là các thực phẩm chúng ta ăn, không khí chúng ta hít thở và các yếu tố môi trường khác.



Một số nghiên cứu thậm chí còn gợi rằng thứ tạo nên các vi khuẩn đường ruột có thể còn là do gen. Nhưng làm thế nào các loại vi khuẩn đường ruột riêng này tác động ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng ta? Đây là một câu hỏi mà các nhà nghiên cứu đang rất quan tâm và tìm kiếm câu trả lời. Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng lượng vi khuẩn đa dạng trong đường ruột đem lại lợi ích cho sức khỏe con người. Ví dụ: theo một nghiên cứu gần đây báo cáo của MNT cho thấy rằng những trẻ có vi khuẩn đường ruột kém đa dạng ở giai đoạn 3 tháng tuổi có nhiều khả năng nhạy cảm với các loại thực phẩm cụ thể như trứng, sữa và đậu phộng.



Còn nếu ở giai đoạn 1 năm tuổi mà lượng vi khuẩn ruột kém đa dạng có thể khiến trẻ bị dị ứng thực phẩm. Nhưng hệ lụy của việc thiếu đa dạng vi khuẩn đường ruột vẫn chưa dừng lại ở đó. Bạn có thể ngạc nhiên khi biết rằng dù là thiếu hay quá nhiều lượng vi khuẩn trong ruột đều có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn.

Vi khuẩn đường ruột và những tác động đối với cơ thể



Béo phì



Ngày càng có nhiều nghiên cứu xem xét mối liên quan giữa sự tăng các vi khuẩn ruột và trọng lượng cơ thể. Một số nhà khoa học cho biết số lượng quá nhiều vi khuẩn trong ruột có thể ảnh hưởng đến tính nhạy cảm khiến cá nhân tăng cân. Một nghiên cứu năm 2014 đã cho thấy rằng gen của mỗi người có thể xác định lượng vi khuẩn sống trong ruột và những vi khuẩn này có thể ảnh hưởng như thế nào tới cân nặng chúng ta.



Cụ thể, nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu từ Đại học Cornell ở Ithaca, NY, và Đại học King’s College London tại Anh, cho thấy một chủng vi khuẩn có tên gọi Christensenellaceae minuta, phổ biến hơn ở những người có trọng lượng cơ thể thấp. Sự hiện diện của chủng vi khuẩn đặc biệt này có khả năng rất cao là do gen. Hơn thế nữa, thử nghiệm về các vi khuẩn này trong ruột của chuột đã khiến chúng tăng cân ít hơn, cho thấy vi khuẩn này có thể làm giảm hoặc ngăn ngừa bệnh béo phì.



Giáo sư Tim Spector, tác giả nghiên cứu, đang giảng dạy tại Đại học Hoàng gia London cho biết rằng: "Phát hiện của chúng tôi cho thấy các nhóm vi khuẩn sống cụ thể trong ruột của chúng ta có thể bảo vệ chống lại bệnh béo phì và chính gen của mỗi người quy định sự phong phú của chúng. Loại vi khuẩn này cho thấy một tác dụng mới lạ, để mở đường cho những nghiên cứu mới về chế độ ăn uống và phương pháp điều trị nhằm chống lại bệnh béo phì."



Năm 2012, một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Journal of Proteome Research cho rằng việc giảm các vi khuẩn trong ruột già có thể ảnh hưởng tới béo phì bằng cách làm chậm lại các hoạt động của mỡ nâu, và bảo vệ chống lại việc tăng cân do kích thích đốt cháy calo và mỡ trắng. Một nghiên cứu gần đây đưa thêm bằng chứng rằng các vi khuẩn đường ruột có thể gây ảnh hưởng đến vấn đề tăng cân.



Bài viết trên tạp chí Open Forum Infectious Diseases công bố trường hợp một người phụ nữ sau khi cấy vi sinh vật (FMT) đã bị thừa cân béo phì nhanh chóng. Các nhà nghiên cứu vẫn đang tiến hành nghiên cứu về việc liệu vi khuẩn đường ruột có trực tiếp liên quan đến béo phì hay không.



Ung thư



Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đang tiến hành nghiên cứu mối liên hệ giữa vi khuẩn đường ruột và bệnh ung thư. Trong một nghiên cứu công bố trên tạp chí The Journal of Cancer Research năm 2013, các nhà nghiên cứu Mỹ tuyên bố phát hiện một loại vi khuẩn cụ thể trong ruột được gọi là johnsonii Lactobacillus, có thể đóng một vai trò trong sự phát triển ung thư hạch, ung thư các tế bào máu trắng.



Một nghiên cứu năm 2013 được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu Anh cho thấy một loại vi khuẩn đường ruột phổ biến được gọi là Helicobacter pylori có thể gây ra ung thư dạ dày và loét tá tràng bằng cách khử hoạt một phần hệ thống miễn dịch có liên quan đến điều tiết viêm. Trong năm 2014, MNT báo cáo nghiên cứu của Trường Y Icahn tại Mount Sinai, New York, NY, trong đó nghiên cứu liên quan đến mối liên hệ cụ thể của vi khuẩn đường ruột với sự phát triển của ung thư đại trực tràng.



Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã cho những con chuột sử dụng thuốc kháng sinh để gây đột biến gen, gây polyp đại trực tràng, trong đó có thể phát triển thành ung thư. Các thuốc kháng sinh được dùng để cản trở các vi khuẩn đường ruột của những con chuột. Các nhà nghiên cứu tìm thấy rằng những con chuột không phát triển khối u, cho thấy rằng các vi khuẩn đường ruột có thể liên quan tới sự phát triển của chúng. Không chỉ tìm ra mối liên hệ gây phát triển bệnh ung thư, nghiên cứu đã phát hiện ra rằng vi khuẩn đường ruột có thể có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều trị ung thư.



Trong năm 2013, một nghiên cứu của các nhà nghiên cứu từ Viện Ung thư Quốc gia cho thấy liệu pháp miễn dịch và hóa trị kém hiệu quả ở những con chuột thiếu các vi khuẩn đường ruột. Các phương pháp điều trị đó cho thấy hiệu quả tốt hơn đáng kể ở những con chuột có vi khuẩn ruột bình thường. Kết quả tương tự cũng được tìm thấy trong một nghiên cứu năm 2013 bởi các nhà nghiên cứu Pháp. Một loại thuốc chống ung thư có tên gọi cyclophosphamide, đã cho thấy là ít hiệu quả ở những con chuột có hệ vi khuẩn đường ruột kém phát triển, so với những con chuột có hệ vi khuẩn đường ruột bình thường.



Peter Turnbaugh của Đại học Harvard phát biểu trên The Scientist rằng "Cả hai nghiên cứu rất thú vị ở chỗ chúng cho thấy các liên kết ban đầu giữa hệ vi sinh vật đường ruột và đáp ứng liệu pháp điều trị. Các bằng chứng này nhấn mạnh tầm quan trọng của vi khuẩn không chỉ trong giai đoạn định hình khuynh hướng ban đầu của bệnh, mà còn trong quá trình điều trị và phục hồi"

Vi khuẩn đường ruột và những tác động đối với cơ thể



Sức khỏe tâm thần



Không nhiều người trong chúng nghĩ rằng vi khuẩn đường ruột ảnh hưởng đến trạng thái tinh thần, nhưng chúng thực sự đóng một vai trò rất quan trọng. Theo Hiệp hội tâm lý Mỹ (APA), vi khuẩn đường ruột sản xuất một loạt các hóa chất thần kinh để não có thể sử dụng cho việc điều chỉnh các quá trình sinh lý và tâm thần, bao gồm trí nhớ, học tập và tâm trạng. Theo APA, thực tế 95% nguồn cung cấp serotonin của cơ thể được sản xuất bởi vi khuẩn đường ruột.



Khi biết điều đó, có lẽ không hề bất ngờ khi các vi khuẩn đường ruột có liên quan đến một số vấn đề sức khỏe tâm thần, bao gồm rối loạn lo âu và trầm cảm. Trong năm 2014, một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Psychopharmacology cho thấy rằng việc tăng các vi khuẩn trong đường ruột: prebiotics -carbohydrates có thể có hiệu quả trong việc giảm căng thẳng và lo lắng.



Trong nghiên cứu này, 45 người lớn khỏe mạnh được chọn ngẫu nhiên để bổ sung prebiotic hoặc giả dược mỗi ngày một lần trong 3 tuần. Tất cả những người tham gia sau đó được tiếp xúc với cả hai kích thích tiêu cực và tích cực. Nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng những người tham gia được bổ sung các prebiotic có ít chú ý đến những tác nhân kích thích tiêu cực hơn so với những người nhận được giả dược; mối lo âu thể hiện thấp hơn trong những tình huống tiêu cực. Họ cũng có nồng độ "hormone stress" cortisol thấp hơn.



Tiến sĩ Kirsten Tillisch, tác giả chính của nghiên cứu cho biết. "Rất nhiều lần, chúng tôi nghe từ các bệnh nhân rằng họ không hề cảm thấy chán nản hoặc lo lắng cho đến khi họ bắt đầu gặp vấn đề về đường ruột. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng kết nối ruột - não là con đường hai chiều."



Tự kỷ



Tự kỷ ước tính ảnh hưởng đến tỷ lệ 1/68 trẻ em ở Mỹ. Các nghiên cứu trước đây đề cập đến yếu tố môi trường như ô nhiễm và yếu tố di truyền là nguyên nhân tiềm tàng gây nên sự rối loạn, còn hiện nay các nhà nghiên cứu đang nhìn nhận vai trò của vi khuẩn đường ruột dẫn đến phát triển rối loạn này. Trong năm 2013, một nghiên cứu của các nhà nghiên cứu từ Đại học bang Arizona phát hiện ra rằng trẻ em mắc chứng tự kỷ có ba loại vi khuẩn đường ruột ở mức thấpso với những trẻ em không bị chứng này, đó là: Prevotella, Coprococcus và Veillonellaceae.



Một nghiên cứu gần đây hơn từ nhóm nghiên cứu cho thấy rằng nồng độ hóa chất đặc biệt được sản xuất bởi vi khuẩn đường ruột (gọi là chất chuyển hóa) trong các mẫu phân của trẻ tự kỷ khác với nồng độ tìm thấy trong các mẫu phân của trẻ em mà không có sự rối loạn này. Điều này khiến các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng các vi khuẩn đường ruột làm thay đổi chất chuyển hóa liên quan đến mối liên hệ giữa ruột và não, và can thiệp với chức năng của não.



Chúng ta có thể thay đổi vi khuẩn đường ruột không?



Do các vi khuẩn đường ruột bị ảnh hưởng bởi những thực phẩm chúng ta ăn và môi trường sống xung quanh, có thể cảm giác rằng có nhiều cách để khiến ta khỏe mạnh hơn. Theo Mayo Clinic, một chế độ ăn uống lành mạnh có thể khuyến khích sự hiện diện của vi khuẩn đường ruột tốt. Họ lưu ý rằng việc ăn các loại thực phẩm lên men như dưa bắp cải muối, làm tăng mức độ lên men vi khuẩn trong ruột. Ngoài ra, các loại trái cây và rau quả chứa sợi và các loại đường có thể tăng những vi khuẩn đường ruột có lợi.



Theo một nghiên cứu báo cáo của MNT vào tháng Sáu năm 2014: Tập thể dục cũng có thể là một cách tích cực để cải thiện hệ vi khuẩn đường ruột thêm đa dạng,. Nghiên cứu này, được công bố trên tạp chí Gut, so sánh vi khuẩn đường ruột của 40 cầu thủ bóng bầu dục chuyên nghiệp với hai nhóm đối chứng. Họ phát hiện ra rằng các cầu thủ bóng bầu dục có mức Akkermansiaceae (một loại vi khuẩn có liên quan với giảm nguy cơ béo phì) trong ruột cao hơn nhiều.



Trong một bài xã luận liên quan đến nghiên cứu, Tiến sĩ Georgina Hold, của Viện Khoa học Y khoa tại Đại học Aberdeen ở Scotland, lưu ý rằng sự hiểu biết tốt hơn về cách để cải thiện sức khỏe thông qua vi khuẩn đường ruột là rất quan trọng: "Khi tuổi tác tiếp tục tăng, chúng ta cần hiểu cách tốt nhất để duy trì sức khỏe. Hiểu được mối quan hệ phức tạp giữa những loại thức ăn chúng ta ăn và mức độ hoạt động của các vi sinh vật phong phú trong ruột là điều rất cần thiết. Cần phát triển tìm tòi những cách thức mới để sử dụng các đặc tính có lợi của các vi sinh vật trong ruột để tích hợp tăng cường sức khỏe vào cuộc sống hiện đại"





Hoài Thanh

Medical News Today

Bệnh sởi và những biến chứng nguy hiểm

20:08 |

Bệnh thường tự khỏi nhưng có thể xảy ra biến chứng nặng, đặc biệt là biến chứng hô hấp và hệ thần kinh trung ương. Tổn thương hô hấp rất thường gặp trong sởi, có thể do chính virút sởi là biến chứng của bệnh chớ không phải đơn thuần do nhiễm khuẩn bệnh viện.




Theo Grais và cộng sự (2007): trên 50% trẻ < 5 tuổi mắc sởi có kết hợp với nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và/hoặc tiêu chảy trong 30 ngày sau khi phát ban. Biến chứng viêm phổi có thể gặp ở 80% số trẻ mắc bệnh sởi và chiếm 20 - 100% nguyên nhân tử vong do sởi ở các nước đang phát triển.







Suy giảm miễn dịch trong sởi



Vấn đề chính yếu trong bệnh sởi là tình trạng suy giảm miễn dịch do virút sởi gây ra, đưa đến nhiễm trùng cơ hội. Suy giảm miễn dịch một phần là do giảm tế bào lympho trong giai đoạn cấp, nhưng hầu hết do mất tế bào miễn dịch do nhiễm khuẩn và hình thành hợp bào (tế bào khổng lồ). Tình trạng ức chế miễn dịch kéo dài trong sởi được giải thích là do hiện tượng chuyển từ đáp ứng miễn dịch tế bào qua trung gian Th1 sang Th2. Suy giảm miễn dịch qua trung gian tế bào do sởi còn tạo thuận lợi cho nhiễm lao. Tình trạng suy giảm miễn dịch còn có liên quan với suy dinh dưỡng và thiếu vitamin A.



Hai vấn đề thường gặp ở trẻ sởi:



- Trẻ suy dinh dưỡng có suy giảm miễn dịch dưới nhiều hình thức khác nhau, có thời gian thải virút kéo dài hơn, và tỉ lệ tử vong do sởi cao hơn.

- Trẻ thiếu vitamin A trên lâm sàng hay dưới lâm sàng sẽ tăng nguy cơ tử vong do sởi.



Sởi thường kèm theo giảm nồng độ retinol/máu và có thể làm thiếu vitamin A trở nên rõ rệt. Trẻ nhập viện vì sởi ở Hoa Kỳ thường có thiếu vitamin A và những bệnh nhân này dễ bị viêm phổi, tiêu chảy sau sởi hơn. Ở quốc gia có tỉ lệ tử vong do sởi cao, điều trị vitamin A liều cao giúp giảm khoảng 50% tử vong do sởi.



Nguyên nhân nhiễm trùng thứ phát



Do tình trạng suy giảm miễn dịch, trẻ sởi dễ bị nhiễm trùng thứ phát. Bội nhiễm có thể thứ phát sau tổn thương mô tại chổ do virút sởi và do ức chế miễn dịch. Điều cần lưu ý là ngoài các tác nhân thường gặp, trẻ sởi cũng có thể nhiễm khuẩn thứ phát với các tác nhân thường không phổ biến ở trẻ bình thường chứ không phải chỉ đơn thuần do nhiễm khuẩn bệnh viện.



Biến chứng bội nhiễm vi trùng thường gặp ở trẻ nhỏ, vệ sinh kém. Các nguyên nhân gây nhiễm trùng thứ phát thường gặp nhất là Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae, Klebsiella pneumoniae, Escherichia coli, Enterobacter cloacae, Pseudomonas aeruginosa, Acinetobacter baumanii, Candida albicans. Suy giảm miễn dịch qua trung gian tế bào do sởi còn tạo thuận lợi cho nhiễm lao.



Các biến chứng hô hấp do bệnh sởi



Tổn thương đường hô hấp chính là một phần trong nhiễm virút sởi. Mức độ lan rộng của tổn thương hô hấp ở trẻ sởi không biến chứng không được biết rõ. Ngoài ra, bội nhiễm vi trùng cũng có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào trên đường hô hấp, có thể thứ phát sau tổn thương mô tại chổ do virút sởi và do ức chế miễn dịch.



Viêm tai giữa cấp



Đây là một trong những biến chứng thường gặp nhất của sởi, gặp ở 7 - 9% trường hợp, nhất là ở trẻ nhỏ (có thể đến 14% ở trẻ dưới 5 tuổi). Ở trẻ nhũ nhi, tử vong do sởi, viêm phổi xảy ra trong 60% trường hợp, trong khi ở trẻ 10 - 14 tuổi, thường tử vong do biến chứng viêm não cấp.



Hirfanoglu T và cộng sự (2006) ghi nhận viêm phổi là biến chứng thường gặp nhất ở trẻ nhập viện vì sởi (75%), trong đó 74,6% là viêm phổi, 15,2% viêm phổi nặng, 38% viêm phổi rất nặng (theo phân loại của TCYTTG). Viêm phổi kèm theo sởi có thể do chính virút sởi hoặc do bội nhiễm vi trùng. Ngay cả trong trường hợp sởi không có biến chứng rõ ràng, cũng thường phát hiện có viêm phổi trên X-quang.



Biến chứng nguy hiểm ở trẻ do bệnh sởi



Viêm phổi có thể do:



Chính một mình virút sởi.

Đồng nhiễm virút thứ phát (adenovirus, Herpes Simplex virus).

Nhiễm vi khuẩn thứ phát.

Viêm phổi kẽ tế bào khổng lồ (sởi ác tính thể phổi).



Nếu viêm phổi xảy ra sớm trong tiến trình của bệnh là dấu hiệu gợi ý tổn thương phổi tiên phát do virút hơn là bội nhiễm vi trùng thứ phát. Viêm phổi do virút sởi điển hình được đặc trưng bởi hình ảnh tăng sáng 2 bên kèm thâm nhiễm mịn lan tỏa hợp lại ở rốn phổi. Tuy nhiên, viêm phổi 1 bên, thùy hay phân thùy cũng có thể được quan sát thấy.



Viêm phổi do bội nhiễm vi khuẩn thường xảy ra từ ngày thứ 4 sau khi phát ban. Khó phân biệt viêm phổi do tổn thương tiên phát do virút hay do bội nhiễm vi trùng. Do vậy, cần điều trị kháng sinh cho bệnh nhi viêm phổi có liên quan đến sởi. X-quang phổi có thể bình thường hay có thể có nhiều bất thường khác nhau nhưng không phải lúc nào cũng tương quan với mức độ nặng của bệnh:



Hội chứng phế quản với hình ảnh đậm cây phế quản và thâm nhiễm quanh rốn phổi.

Hội chứng mô kẽ với hình ảnh lưới nốt lan tỏa.

Thâm nhiễm nhu mô trong trường hợp bội nhiễm vi khuẩn.

Thường gặp rối loạn thông khí.

Tổn thương có thể lan tỏa dưới dạng thâm nhiễm phế nang.

Mô kẽ 2 bên.



Tác nhân gây bệnh: cấy máu, chọc phổi, dịch khí quản dương tính trong 25 - 35% viêm phổi kết hợp với sởi. Tác nhân thường gặp nhất: S. pneumoniae, S. pyogenes, S.aureus, H. influenzae.



Các nguyên nhân khác cũng có thể gặp, đặc biệt trong viêm phổi nặng: Pseudomonas species, Klebsiella pneumoniae, E. coli, Acinetobacter. Còn có thể gặp Neisseria meningitidis ở người lớn còn trẻ.



Tụ cầu phổi - màng phổi: dạng biến chứng hô hấp điển hình, nặng, xuất hiện trong giai đoạn ban bay, chủ yếu gặp ở trẻ nhũ nhi.



Yếu tố thuận lợi: tổng trạng kém, suy giảm miễn dịch do sởi. Bệnh cảnh tăng nặng nhanh với sốt cao, sốc. Triệu chứng tiêu hóa có thể nổi bật hàng đầu trong khi các dấu hiệu tại phổi kín đáo hơn. Tràn mủ - khí màng phổi thường gặp và nặng.



Viêm phổi kẽ tế bào khổng lồ (còn gọi là sởi ác tính thể phổi) thường gặp ở trẻ suy giảm miễn dịch/suy dinh dưỡng nặng nhưng cũng có thể gặp ở người lớn và trẻ em bình thường. Thường xảy ra trong giai đoạn phát ban. Bệnh nhân có thể không có phát ban. Bệnh cảnh suy hô hấp nặng, tiến triển dần đến thiếu oxy kháng trị, tiên lượng xấu. Điều trị chủ yếu là chống suy hô hấp. Vai trò của corticoid còn được bàn cãi.



Viêm phổi do sởi ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch:



Ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch, viêm phổi lan tỏa, tiến triển dần do sởi là nguyên nhân tử vong thường gặp nhất. Có thể có bệnh cảnh sởi điển hình với viêm phổi hay có thể có bệnh cảnh không điển hình, kèm theo viêm phổi nhưng không phát ban. Thường triệu chứng viêm phổi xuất hiện trong 2 tuần sau khi có biểu hiện khởi đầu của bệnh. Các bệnh nhân khác có thể phát ban trở lại và viêm phổi sau một khoảng thời gian dài sau sởi điển hình.



Lao phổi:



Từ lâu người ta đã biết rằng bệnh nhân lao sẽ nặng hơn nếu nhiễm sởi. Suy giảm miễn dịch qua trung gian tế bào do sởi tạo thuận lợi cho lao: lao có thể trở nên có hoạt tính hay tăng nặng khi nhiễm sởi. Raote GJ và cộng sự (1992) ghi nhận lao trở nên có hoạt tính ở 10,66% trẻ 6 tháng - 7 tuổi nhập viện vì sởi, trong đó 4% là lao kê. IDR trở nên âm tính trong khoảng 1 tháng sau mắc sởi hoặc chủng ngừa sởi. Khuyến cáo nên trì hoãn chủng ngừa sởi ở bệnh nhân lao rõ cho đến khi đã được điều trị lao.



Các biến chứng khác:



Hiếm gặp hơn viêm tai xương chũm, áp-xe thành sau họng. Xẹp phổi, khí phế thũng, tràn khí trung thất. Một số lưu ý trên thực hành lâm sàng: Hiện Bộ Y tế đã ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh sởi. Trên thực tế lâm sàng, cần lưu ý đến một số điểm sau:



Biến chứng hô hấp là thường gặp nhất ở trẻ mắc bệnh sởi, cần lưu phát hiện và điều trị sớm nhất là ở bệnh nhi nhập viện. Sốt dai dẳng trên 5 ngày cần lưu ý đến khả năng có biến chứng, cần được tầm soát đầy đủ, đặc biệt là chụp X-quang phổi. Thời điểm xuất hiện biến chứng gợi ý là do chính virút sởi hay do nhiễm khuẩn thứ phát tuy việc phân biệt thường khó khăn. Điều trị hỗ trợ hô hấp thích hợp theo phác đồ. Bổ sung vitamin A liều cao.



Trong lựa chọn kháng sinh, ngoài các tác nhân phổ biến (như: streptococcus pneumoniae, haemophilus influenza), cần đặc biệt lưu ý đến các tác nhân khác cũng thường gặp dù không hẳn là nhiễm khuẩn bệnh viện (như: staphylococcus aureus, pseudomonas aeruginosa, escherichia coli, klebsiella pneumonia, enterobacter species, acinetobacter baumanii, đặc biệt là S.aureus).



Trường hợp biến chứng hô hấp nặng, cần sớm phối hợp kháng sinh kháng tụ cầu và vi khuẩn gram âm. Không sử dụng corticoid. Cần lưu ý đến khả năng lao nặng hơn hoặc trở nên có hoạt tính sau khi mắc bệnh sởi.





BS. TRẦN ANH TUẤN

(Khoa Hô hấp - Bệnh viện Nhi Đồng 1)

Vitamin nhóm B cần cho hệ tiêu hóa của trẻ

19:44 |

Các loại vitamin nhóm B giúp tăng cường sức đề kháng, hỗ trợ quá trình tiêu hóa, vì vậy có liên quan mật thiết đến hệ tiêu hóa của trẻ. Vậy từng loại vitamin nhóm B có tác dụng với trẻ thế nào?

Đối với trẻ nhỏ, việc bổ sung đầy đủ vitamin nói chung và vitamin nhóm B nói riêng sẽ đảm bảo sự phát triển đều đặn và cân đối trong những năm tháng đầu đời. Vitamin nhóm B bao gồm các loại: B1, B2, B3, B5, B6, B7, B8, B9, B12.



Nhìn chung, vitamin nhóm B đều có tác dụng hỗ trợ quá trình sản xuất năng lượng trong cơ thể cũng như trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng trong tế bào. Vitamin nhóm B còn góp phần điều hòa tâm sinh lý, giúp chống lại những tâm trạng tiêu cực, mệt mỏi, ủ rũ và căng thẳng. Có thể nói, vitamin nhóm B đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của trẻ, cả về thể chất lẫn trí tuệ.


Tuy nhiên, vitamin nhóm B không tồn tại nhiều trong thực phẩm tự nhiên và dễ bị phân hủy trong nước. Do đó, không dễ dàng bổ sung vitamin nhóm B cho trẻ, nhất là với trẻ biếng ăn hoặc gặp rắc rối với đường tiêu hóa. Bên cạnh chức năng chung của nhóm, mỗi loại vitamin B có những vai trò riêng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của trẻ nhỏ.

Một số vitamin thuộc nhóm B sau có ảnh hưởng trực tiếp đến hệ tiêu hóa, chuyển hóa hấp thu các chất dinh dưỡng của trẻ:

Vitamin B1 hay còn gọi là thiamin.

Vitamin B1 có nhiều trong vỏ của các hạt ngũ cốc như : vỏ cám của gạo, lúa mì… nếu ăn gạo xay xát quá kỹ dễ có nguy cơ bị thiếu vitamin B1. Vitamin B1 còn có nhiều trong đậu đỗ thịt, cá. Nhưng vitamin B1 lại rất dễ bị hao hụt trong quá trình nấu nướng, cho nên nguy cơ thiếu B1 rất dễ xảy ra, nhất là đối với trẻ em.

Vitamin B1 cần thiết cho việc tạo ra một loại men (enzyme) quan trọng tham gia vào quá trình chuyển hóa đường và quá trình phát triển của cơ thể. Ngoài ra, vitamin B1 kích thích sự tạo thành một loại men tham gia vào quá trình tiêu hóa thức ăn, kích thích cảm giác thèm ăn. Khi thiếu vitamin B1, trẻ thường biếng ăn, mệt mỏi, nhất là những trẻ lười ăn chất bột đường như: bột, cháo, cơm… thì việc bổ sung vitamin B1 là cần thiết. Khi thiếu vitamin B1, trẻ thường biếng ăn, mệt mỏi Khi thiếu vitamin B1, trẻ thường biếng ăn, mệt mỏi

Vitamin B2 có tên gọi quốc tế là riboflavin.

Trong thiên nhiên, vitamin B2 có trong tất cả các tế bào sống. Các loại thực phẩm ta dùng hằng ngày như: ngũ cốc, rau xanh, đậu các loại, thịt, trứng, sữa, tim, thận, gan, lách... đều có vitamin B2 (tỉ lệ mất vitamin B2 khi chế biến thức ăn khoảng 15 - 20%). Hàm lượng vitamin B2 trong động vật cao hơn thực vật. Vitamin B2 thải trừ chủ yếu theo nước tiểu (làm cho nước tiểu có màu vàng), một phần nhỏ thải trừ theo phân.

Trong cơ thể, vitamin B2 có nhiều vai trò quan trọng: thành phần quan trọng của các men oxydase; trực tiếp tham gia vào các phản ứng oxy hóa hoàn nguyên; khống chế các phản ứng hô hấp chuyển hóa của tế bào;chuyển hóa các chất: đường, đạm, béo ra năng lượng để cung cấp cho các tế bào hoạt động; tác động đến việc hấp thu, tồn trữ và sử dụng sắt trong cơ thể (rất quan trọng trong việc phòng chống thiếu máu do thiếu sắt).

Vitamin B2 tham gia vào sự chuyển hóa thức ăn thành năng lượng bằng cách chuyển hóa chất bột, chất béo và chất đạm thông qua các loại men, giúp cơ thể tự cân bằng dinh dưỡng. Nó cũng có ảnh hưởng tới khả năng cảm thụ ánh sáng của mắt, nhất là đối với khả năng cảm thụ màu. Vitamin B2 kết hợp với vitamin A làm cho dây thần kinh thị giác hoạt động tốt, đảm bảo thị giác của trẻ phát triển bình thường, trong những trường hợp bị tiêu chảy kéo dài, tổn thương niêm mạc ruột vitamin B2 còn có tác dụng phục hồi làm lành tổn thương niêm mạc ruột.

Vitamin B5 hay còn gọi là axít pantothenic được tìm thấy trong cơ thể chủ yếu dưới dạng coenzym A, tiền chất của coenzyme A. Quá trình tổng hợp coenzym A được thực hiện đối với các tế bào của cơ thể. Nồng độ của axít pantothenic và coenzyme thay đổi tùy theo tổ chức và tình trạng dinh dưỡng.

Tầm quan trọng của vitamin B5 đã được xác định: nó là một trong ba yếu tố thiết lập nên coenzyme A, cần thiết cho tất cả hoạt động chuyển hóa năng lượng của tế bào. Nó can dự vào chuyển hóa lipid, glucid và protid trong quá trình tổng hợp hormon steroid có dẫn xuất từ cholesterol. tham gia vào quá trình lên men tiêu hóa, đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải phóng năng lượng từ chất béo, chất bột, đạm và rượu. Vitamin B5 tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển và độ bền của da cũng như niêm mạc. Ngoài ra, nó cũng đóng vai trò trong quá trình phát triển chức năng của hệ thần kinh trung ương.

Vitamin B6 tham gia vào men tiêu hóa dưới dạng coenzyme, đóng vai trò thiết yếu trong chuyển hóa chất đạm. chất bột đường và chất béo, đảm bảo hoạt động hệ thần kinh trung ương. Ngoài ra còn ham gia tiổng hợp hemoglobin, khi thiếu vitamin B6 cũng dẫn đến thiếu máu.

Vitamin B9 hay còn gọi là axít folic: tham gia quá trình tạo ra tế bào mới và duy trì sự tồn tại của chúng. Nó đặc biệt quan trọng trong giai đoạn phân chia và lớn lên nhanh của tế bào như ở trẻ sơ sinh và phụ nữ mang thai. Chất này cần thiết trong việc nhân đôi ADN và giúp tránh đột biến ADN (vốn là một yếu tố gây ung thư).

Thường ít khi trẻ bị thiếu một loại vitamin nhóm B đơn độc mà thường là thiếu nhiều loại cùng một lúc, thường hay gặp ở trẻ biếng ăn, chậm lớn, hay bị rối loạn tiêu hóa kéo dài. Vì vậy khi trẻ có biểu hiện biếng ăn, chậm lớn ngoài việc tìm các nguyên nhân để điều trị, các bà mẹ có thể bổ sung các vitamin nhóm B, kẽm và lysin... để giúp trẻ ăn ngon miệng phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em.



ThS.BS. LÊ THỊ HẢI